Thứ Bảy, 18/05/2024

Vai trò và yêu cầu đối với Viện kiểm sát nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với xây dựng nền công tố mạnh trong thiết chế Viện kiểm sát nhân dân, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp cần tiếp tục được mở rộng về đối tượng, phạm vi kiểm sát.

Để đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với xây dựng nền công tố mạnh trong thiết chế Viện kiểm sát nhân dân, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp cần tiếp tục được mở rộng về đối tượng, phạm vi kiểm sát; các phương thức kiểm sát hoạt động tư pháp do luật quy định cần được áp dụng đầy đủ, linh hoạt trong từng lĩnh vực công tác; các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị cần được quy định cụ thể hơn, có cơ chế đảm bảo thực hiện.

Trên thế giới hiện nay, có nhiều cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước khác nhau, nhưng dù quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân công hay phân quyền thì đều phải được giám sát, kiểm soát nhằm bảo đảm cho các quyền đó thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, không vượt ra ngoài phạm vi thẩm quyền đã được quy định. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), có nhiều cơ quan, thiết chế tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là một thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp.

Ở Việt Nam, theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, về bản chất là Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tuy nhiên có sự phân công, phân cấp trong tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước. Thông qua quy định của Hiến pháp và Luật, Quốc hội giao cho nhiều cơ quan nhà nước giám sát việc thực hiện quyền lực và theo dõi, kiểm tra, yêu cầu các cơ quan đó báo cáo tình hình giám sát. Để giám sát, kiểm soát quyền lực một cách cụ thể, Quốc hội giao cho cơ quan nhà nước khác có chức năng, nhiệm vụ mang tính chuyên môn cao, như các Ủy ban chuyên trách của Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, hay chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Đây là cơ sở quan trọng để hiến định vị trí, vai trò của VKSND. Như vậy, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND bắt nguồn từ chức năng giám sát của Quốc hội, sẽ phát huy hiệu quả bởi được thiết kế như cơ chế quyền lực “nối dài” của Quốc hội để giám sát hoạt động tư pháp.

1. Vai trò của VKSND trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Sự hình thành Viện kiểm sát nhân dân

Theo quy luật, quyền lực nhà nước có sự vận động theo xu hướng tự phủ định mình, Karl Marx gọi hiện tượng này là “sự tha hóa của quyền lực nhà nước”. Sự tha hóa quyền lực biểu hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau, như lạm quyền, lộng quyền, tùy tiện, thiếu trách nhiệm, lợi dụng quyền lực (trục lợi từ quyền lực), tiếm quyền, tham quyền cố vị, quan liêu, tập trung quyền lực quá mức (độc đoán, chuyên quyền) hoặc phân tán quyền lực… Do đó, để khắc chế việc tha hóa quyền lực, thì việc tổ chức quyền lực nhà nước phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật, trong đó quy định rõ sự phân công, phân cấp, trao quyền đi đôi với trách nhiệm và cơ chế giám sát, kiểm soát các quyền đó.

Theo V.I.Lê-nin, pháp chế phải thống nhất, pháp chế không thống nhất thì không thể tiến hành công cuộc cách mạng XHCN, không thể bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng. Yếu tố cản trở mạnh mẽ, trực tiếp nhất đến sự thống nhất của pháp chế XHCN là bệnh cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa - hàng rào tệ hại ngăn cản việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn đấu tranh chống lại một cách có hiệu quả chủ nghĩa cục bộ địa phương, nhất thiết phải thành lập Viện kiểm sát.

VKSND ngay từ khi ra đời, theo Hiến pháp năm 1959 (tiền thân là Viện công tố) đã mang một “sứ mệnh đặc biệt” được ghi trong Đề cương báo cáo về Hiến pháp sửa đổi (sửa Hiến pháp năm 1946), cụ thể: Viện kiểm sát khác với Viện công tố ở chỗ, Viện công tố chỉ làm việc công tố trước Tòa, mà Viện kiểm sát thì còn làm việc kiểm sát chung, tức là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước ở địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. VKSND chỉ chịu sự lãnh đạo của ngành dọc, chứ không chịu sự lãnh đạo ngang của cơ quan hành chính đồng cấp; Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên địa phương đều do cấp trên bổ nhiệm, chứ không do Hội đồng nhân dân bầu; nhiệm kỳ của Viện trưởng VKSND tối cao là 5 năm. Những tư tưởng trên cũng đã được quy định tại Điều 105 Hiến pháp năm 1959. Theo đó, VKSND tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân. Điều này đánh dấu sự ra đời một hệ thống cơ quan từ trung ương xuống địa phương theo ngành dọc trực thuộc Quốc hội, không trực thuộc chính quyền địa phương cùng cấp.

Chính vì vậy, ngay sau khi được Hiến pháp năm 1959 ghi nhận và cụ thể hóa bằng Luật tổ chức VKSND năm 1960, lần đầu tiên trong lịch sử Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam, VKSND được quy định là một cơ quan nhà nước độc lập, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân (Điều 105). Đây chính là nền tảng pháp lý quan trọng thể hiện sự ra đời của hệ thống cơ quan VKSND nhằm thực hiện một chức năng mới của Nhà nước là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và công dân theo quy định của pháp luật; đồng thời, cũng đánh dấu sự ra đời của một “thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước” do Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân - giao cho để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm minh và thống nhất, pháp chế dân chủ được giữ vững.

Vào đầu những năm 2000, để tạo sự năng động, tự chủ của các thành phần kinh tế, chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (gọi tắt là kiểm sát chung) của Viện kiểm sát, vốn được xem là công cụ quan trọng để tham gia kiểm soát quyền lực và bảo đảm pháp chế thống nhất trong Nhà nước XHCN thu hẹp, chỉ còn kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Đến nay, trải qua lịch sử 60 năm hình thành và phát triển, với tư cách là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập trong bộ máy nhà nước, chỉ có hệ thống cơ quan VKSND là cơ quan duy nhất có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm góp phần bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Có thể nói, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là rất rộng, có nhiều cơ quan, thiết chế tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó VKSND với tư cách là thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp ở nước ta hiện nay. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi nhận nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước “có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đây cũng là mục tiêu mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã đặt ra đến năm 2020 là phải “hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực”.

VKSND là một thiết chế đặc trưng của Nhà nước XHCN, có vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước của Việt Nam trước đây cũng như hiện nay. Ngoài chức năng công tố, Viện kiểm sát còn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Thực chất, đây là thiết chế kiểm soát quyền lực trong Nhà nước XHCN. Tuy nhiên, khi Viện kiểm sát chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, đã tạo ra khoảng trống quyền lực trong việc kiểm sát, nhất là việc nảy sinh hiện tượng cục bộ ngành, cục bộ địa phương trong ban hành văn bản quy phạm pháp luật, là một trong những nguyên nhân phát sinh vi phạm, tội phạm, cản trở việc thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây là nội dung cần tiếp tục nghiên cứu để tạo cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu lực và hiệu quả hơn trong quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay.

Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

Theo quy định tại Điều 107, Điều 108 và Điều 109 Hiến pháp năm 2013, VKSND là một thiết chế hiến định trong bộ máy nhà nước, ngoài chức năng thực hành quyền công tố, VKSND còn có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật. Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã nhấn mạnh: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy, thực chất đây là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối với các chủ thể thực hiện, tham gia các hoạt động tư pháp.

VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp có sự độc lập về tổ chức so với các cơ quan bị kiểm sát (đối tượng của kiểm sát hoạt động tư pháp). Theo quy định của pháp luật hiện hành, VKSND là hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, được tổ chức theo ngành dọc, không nằm trong hay không bao trùm các cơ quan thực hiện quyền tư pháp và cơ quan tham gia trong hoạt động tư pháp như Cơ quan điều tra, cơ quan Thi hành án... Do vậy, VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp độc lập, bảo đảm cho hoạt động giám sát được khách quan, trung thực, có hiệu lực, hiệu quả cao.

Trong hoạt động tư pháp, VKSND là cơ quan duy nhất tham gia toàn bộ các giai đoạn (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, do đó, VKSND có thẩm quyền tham gia vào tất cả các lĩnh vực (tố tụng tư pháp hình sự, dân sự, hành chính, thi hành án...) trong hoạt động tư pháp. Đây là tiền đề và giá trị quan trọng để đảm bảo cho VKSND có khả năng giám sát hiệu quả nhất toàn bộ quá trình tố tụng và các lĩnh vực khác trong hoạt động tư pháp, cũng để giám sát toàn bộ quá trình thực hiện quyền tư pháp. Bên cạnh đó, với bộ máy tổ chức và hoạt động của VKSND tương đối hoàn thiện để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp; hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ mang tính chuyên môn sâu, hoạt động thường xuyên, liên tục, có nhiều chức danh tư pháp theo ngạch. Qua đó, VKSND có đủ cơ sở để phát hiện vi phạm trong hoạt động tư pháp và là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho hoạt động giám sát có tính chuyên nghiệp và hiệu quả cao.

Trong hơn 60 năm qua, từ khi Luật tổ chức VKSND đầu tiên được Quốc hội thông qua cho đến nay, với tư cách là một thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước, VKSND đã và đang thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp có hiệu quả. Kết quả từ thực tiễn của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp là minh chứng rõ ràng nhất về sự cần thiết của VKSND nói chung và sự cần thiết của cơ chế giám sát hoạt động tư pháp nói riêng. Hàng năm, Viện trưởng VKSND tối cao báo cáo công tác của ngành Kiểm sát nhân dân trước Quốc hội về kết quả thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp đều được đánh giá cao, đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội về công tác này (được thể hiện trong các báo cáo công tác hàng năm của ngành Kiểm sát nhân dân). Qua đó cho thấy, ý nghĩa về thực tiễn của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND là đáng ghi nhận, có vai trò quan trọng, là chỗ dựa đáng tin cậy của Quốc hội trong giám sát quyền lực tư pháp. Kiểm sát hoạt động tư pháp vừa là cơ chế kiểm soát từ bên ngoài, độc lập với đối tượng giám sát, nhưng lại có khả năng bao quát và giám sát được toàn bộ, từng hoạt động cụ thể trong quá trình thực hiện hoạt động tư pháp, nhằm đảm bảo Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh, hạn chế sai phạm, vi phạm của các cơ quan tham gia thực hiện hoạt động tư pháp. Bởi lẽ, VKSND chỉ xem xét đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp dưới phương diện có hợp pháp hay không mà không can thiệp vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan này.

Nếu VKSND phát hiện vi phạm thì thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu khắc phục những vi phạm đó; hoặc tập hợp nhiều vi phạm phổ biến để kiến nghị đến cơ quan quản lý hoặc cơ quan quyền lực nhà nước, cũng như tham mưu cho cấp ủy Đảng để chỉ đạo, khắc phục vi phạm. Vì vậy, hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp, mà hướng đến mục tiêu bảo đảm pháp luật được thực hiện, chấp hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất, bảo vệ quyền lợi của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tóm lại, Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND qua nhiều giai đoạn luôn ghi nhận và khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, điều đó cho thấy VKSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là phù hợp với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước và phù hợp với quyền tư pháp ở nước ta.

2. Yêu cầu đối với VKSND trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Về cơ chế tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước

Nhìn lại quá trình cải cách VKSND trong những năm đổi mới thì thấy vấn đề VKSND đã được đặt ra từ những năm 90 của thế kỷ XX. Tại thời điểm xây dựng Hiến pháp năm 1992, đã xuất hiện nhiều ý kiến đề nghị xem xét lại chức năng của VKSND. Những ý kiến này cho rằng, trong bộ máy Nhà nước đang có sự chồng chéo về chức năng giữa VKSND và cơ quan Thanh tra, do vậy, cần bỏ chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, chuyển VKSND thành Viện công tố. Tuy nhiên, ý kiến này đã không được Quốc hội chấp thuận và Hiến pháp năm 1992 được ban hành vẫn giữ nguyên mô hình VKSND trong bộ máy Nhà nước. Sau 8 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, nhu cầu sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp với trọng tâm là sửa đổi, bổ sung một số điều về tổ chức bộ máy Nhà nước làm cơ sở cho việc tiếp tục cải cách bộ máy Nhà nước đã được đặt ra và trình Quốc hội quyết định. Trong 8 điều sửa đổi liên quan đến bộ máy Nhà nước thì việc sửa đổi Điều 137 về điều chỉnh phạm vi chức năng của Viện kiểm sát được đánh giá là sửa đổi lớn nhất. Lý do mà Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp lập luận cho việc điều chỉnh chức năng của Viện kiểm sát là “để Viện kiểm sát tập trung vào thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp - là những nhiệm vụ không thể giao cho các cơ quan khác thực hiện và là hai lĩnh vực rất bức xúc. Không giao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho Viện kiểm sát cũng là để khắc phục những trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta”.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW) lại đặt vấn đề “nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố”. Triển khai thực hiện quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề Viện kiểm sát, nhiều đề án nghiên cứu cải cách tư pháp do các cơ quan hữu trách, cũng như hoạt động nghiên cứu độc lập của giới khoa học pháp lý đã được triển khai thực hiện và đưa ra đề xuất. Qua theo dõi quá trình nghiên cứu cải cách Viện kiểm sát thì thấy hình thành hai nhóm quan điểm chính: (i) Cần chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố. Theo quan điểm này, tiếp cận vấn đề theo hướng việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố là một chủ trương đã rõ ràng, do vậy không tập trung nghiên cứu, phân tích lý lẽ vì sao phải chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, cũng như bỏ qua việc làm sáng tỏ việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố có phải là đòi hỏi khách quan trong giai đoạn hiện nay hay không mà chủ yếu chỉ tập trung bàn về tổ chức và hoạt động của Viện công tố trong thời gian tới; (ii) Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, việc thu hẹp phạm vi chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát hoặc chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát sang mô hình Viện công tố là quyết định chưa thuyết phục ở góc độ phương pháp luận, lý luận cũng như thực tiễn. Vấn đề đặt ra là cần hoàn thiện mô hình Viện kiểm sát, phát huy hiệu lực, hiệu quả của mô hình này mà không phải thay thế nó bằng mô hình Viện công tố.

Do vậy, trên cơ sở các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, việc tiếp tục nghiên cứu để thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn các chủ trương, đường lối trên trong quá trình xây dựng Hiến pháp, luật tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp và các luật tố tụng tư pháp là nhiệm vụ rất quan trọng. Đối với chế định VKSND, tác giả cho rằng, việc tổng kết, đề xuất sửa đổi, bổ sung Hiến pháp cần tập trung xác định rõ vị trí của Viện kiểm sát trong cơ cấu quyền lực nhà nước thuộc nhánh quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp.

Xác định cụ thể vị trí của Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, bởi việc xác định chính xác thiết chế này đặt ở đâu trong cơ cấu quyền lực nhà nước sẽ tạo cho thiết chế này những chế độ pháp lý, nguyên tắc hoạt động phù hợp để thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao. Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được khẳng định rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật hiện hành. Về kỹ thuật lập hiến, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 đều đặt chế định VKSND vào cùng một chương với Tòa án nhân dân, nhưng không quy định Viện kiểm sát thuộc nhánh quyền lực nào. Đây cũng là một trong những lý do làm nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về vị trí của VKSND. Ý kiến thứ nhất cho rằng, Viện kiểm sát là thiết chế thuộc nhánh quyền lập pháp, nhân danh quyền lập pháp thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật trong phạm vi được cơ quan quyền lực cao nhất ủy quyền và chịu sự giám sát của cơ quan đó. Ý kiến thứ hai cho rằng, Viện kiểm sát là thiết chế thuộc nhánh quyền tư pháp, thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, nhân danh Nhà nước buộc tội bị cáo tại phiên tòa. Ý kiến thứ ba cho rằng, Viện kiểm sát là thiết chế thuộc nhánh quyền hành pháp, bởi lẽ Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm ngăn chặn tội phạm, do vậy, Chính phủ phải nắm cơ quan công tố để chủ động ngăn chặn và phát hiện tội phạm. Ý kiến thứ tư cho rằng, Viện kiểm sát là một loại quyền lực độc lập, không trực thuộc nhánh quyền lực nào trong ba nhánh quyền lực truyền thống.

- Về định hướng hoàn thiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp

Thực hiện chủ trương của Đảng, việc đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của VKSND nói chung và hoàn thiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói riêng là đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan và cần thực hiện theo một số định hướng chủ yếu sau đây:

Một là, tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: Trong giai đoạn hiện nay, từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, XII, XIII tiếp tục khẳng định và quán triệt nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước; đồng thời thể chế hóa và quy định tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013. Việc tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước và quyền lực tư pháp là một nhu cầu tất yếu khách quan. Cơ chế kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND là một phương thức giám sát nhân danh quyền lực nhà nước, đó là phương thức giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động của Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan Thi hành án và cơ quan khác được giao thực hiện quyền tư pháp. Đây là phương thức giám sát có hiệu quả, góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Như vậy, chủ trương của Đảng về tăng cường công tác kiểm sát hoạt động tư pháp là hoàn toàn đúng đắn ở nước ta hiện nay.

Hai là, đẩy mạnh yêu cầu bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp: Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận giá trị của quyền con người, quyền công dân (khoản 1 Điều 14) trong hoạt động tố tụng hình sự: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định” (khoản 2 Điều 20). Như vậy, VKSND không những là cơ quan thực hiện chức năng buộc tội mà còn có trách nhiệm, nhiệm vụ quan trọng trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng. Thông qua việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có trách nhiệm phát hiện và xử lý hoặc yêu cầu xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong hoạt động tư pháp làm xâm hại đến quyền con người, quyền công dân.

- Một số nội dung hoàn thiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp

Hoàn thiện về phương thức kiểm sát hoạt động tư pháp: Công tác kiểm sát trong từng khâu công tác, từng lĩnh vực cần phải được xác định rõ các phương thức, cách thức thực hiện. Theo đó, cần đảm bảo hoạt động kiểm sát phải được tiến hành hết sức chặt chẽ, đúng quy trình; cần bổ sung quy định áp dụng các phương pháp trực tiếp kiểm sát, tham gia phiên tòa, phiên họp, trực tiếp tham gia vào hoạt động tư pháp khác trong các công tác kiểm sát, để tăng cường phát hiện vi phạm. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể về căn cứ, điều kiện áp dụng phương thức kiểm sát trực tiếp hoặc kiểm sát qua bản án, quyết định.

Đối với các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị của VKSND khi kiểm sát hoạt động tư pháp: Cần quy định chặt chẽ và có phân biệt các trường hợp, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu trong từng lĩnh vực công tác để thực hiện thống nhất. Quy định cụ thể hơn về nội dung và hình thức kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu để bảo đảm việc thực hiện các quyền này có căn cứ, đúng pháp luật, được chấp nhận và thực hiện nghiêm túc. Cần bổ sung quy định về trách nhiệm pháp lý đối với cơ quan, cá nhân, tổ chức bị yêu cầu, kiến nghị trong việc trả lời, thực hiện và giải quyết từng loại yêu cầu, kiến nghị cụ thể trong từng lĩnh vực công tác kiểm sát hoạt động tư pháp để tăng tính hiệu quả, hiệu lực của các yêu cầu, kiến nghị của Viện kiểm sát, có căn cứ rõ ràng để xác định vi phạm của các chủ thể bị yêu cầu, kiến nghị.

Về phạm vi, đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp: Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp có đối tượng và phạm vi rất rộng, do vậy, công tác kiểm sát hoạt động tư pháp cần thực hiện nghiêm túc, góp phần đảm bảo hoạt động tư pháp tuân thủ đúng quy định pháp luật. Trong xu thế hiện nay, nên mở rộng đối tượng và phạm vi trong quyết định kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan như cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng bổ trợ tư pháp: Công chứng, giám định, định giá, thừa phát lại, tổ chức đấu giá tài sản thi hành án... trong trường hợp VKSND nhận thấy có dấu hiệu vi phạm.

Về nội dung chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp: Cần bổ sung, quy định rõ ràng, đầy đủ và cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của VKSND khi kiểm sát hoạt động tư pháp trong từng lĩnh vực, đặc biệt là trong các lĩnh vực kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính; kiểm sát thi hành án và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm bảo đảm VKSND có đủ điều kiện tiến hành hoạt động kiểm sát và kết quả kiểm sát phản ánh đúng thực trạng của hoạt động tư pháp. Đồng thời, quy định chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và quy định thời gian hợp lý để VKSND thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra: Theo quy định hiện hành, Viện kiểm sát là cơ quan quyết định các nhiệm vụ tố tụng quan trọng trong giai đoạn điều tra, để bảo đảm hiệu quả trong quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án, tác giả có một số kiến nghị cụ thể sau: Trên cơ sở phân công trách nhiệm nhưng cùng đảm nhận chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự nên Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra phải phối hợp chặt chẽ, làm cho việc xử lý vụ án được tiếp nối nhau về mặt trình tự, hoàn thành nhiệm vụ làm rõ sự thật vụ án, truy cứu, trách nhiệm hình sự; quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra là quan hệ chế ước, ràng buộc lẫn nhau để tạo sự cân bằng theo sự phân công và trình tự thuộc chức năng tố tụng; sự phối hợp và chế ước giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra là quan hệ mang tính tương hỗ, hai chiều. Xét trong quan hệ tố tụng, mục đích cuối cùng của điều tra là đưa ra công tố (buộc tội), điều tra là sự chuẩn bị của công tố, buộc phải phục tùng theo yêu cầu của công tố. Nếu xét về quan hệ chức năng của hai cơ quan thì Cơ quan điều tra là người thực hiện cụ thể hoạt động điều tra, còn Viện kiểm sát chịu trách nhiệm thẩm tra phê chuẩn bắt giữ và thẩm tra truy tố - thẩm tra công tác điều tra theo quy định của pháp luật. Do vậy, trong quan hệ phối hợp, chế ước lẫn nhau này, Viện kiểm sát ở vị trí chủ đạo.

PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu

Tạp chí Kiểm sát số 20/2023

Tin mới