Thứ Bảy, 04/04/2026
Ngày 19/02/2024, Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Thông báo rút kinh nghiệm số 358/TB-VKS trong việc kiểm sát giải quyết vụ án hành chính “Khiếu kiện hành vi hành chính và quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, giữa người khởi kiện: ông Đào Tiến S; người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã P, huyện Đ; bị Toà án cấp phúc thẩm quyết định huỷ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
1. Nội dung vụ án
Năm 2012, ông Đào Tiến S có hành vi tự ý lấn chiếm đất xây dựng hầm chứa nước thải nằm ngoài phạm vi thửa đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thửa số 34, tờ bản đồ 15 xã P và có hành vi chăn nuôi thả gia cầm, nước thải sinh hoạt hằng ngày làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân xung quanh.
Ngày 03/01/2012, UBND xã P lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông S. Đến ngày 12/01/2012, Chủ tịch UBND xã P ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 04/QĐ-XPHC mức tiền phạt 2.000.000 đồng và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo vệ môi trường số 05/QĐ-XPHC mức tiền phạt 500.000 đồng đối với ông S. Ông S đã nộp phạt theo 02 biên lai thu tiền phạt ngày 12/01/2012. Ngày 05/12/2019, ông S có đơn yêu cầu UBND xã P giao 02 quyết định xử phạt hành chính trên; ngày 11/12/2019, UBND xã P đã sao lục cung cấp 02 quyết định xử phạt hành chính trên theo Phiếu giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin số 01/PGQ cho ông S.
Năm 2022, ông Đào Tiến S khởi kiện vụ án hành chính đề nghị Tòa án: yêu cầu Chủ tịch UBND xã P giao Quyết định xử phạt hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 12/01/2012 và tuyên bố Chủ tịch UBND xã P vi phạm thời hạn giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Sau đó, ngày 19/8/2022, ông S rút đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân huyện Đ căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính (Luật TTHC) quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Ngày 22/10/2022, ông Đào Tiến S nộp lại đơn khởi kiện vụ án hành chính có nội dung yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch UBND xã P vi phạm thời hạn giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho người bị xử phạt; buộc Chủ tịch UBND xã P phải giao cho ông quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên; buộc Chủ tịch UBND xã P hủy bỏ các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC và số 05/QĐ-XPHC cùng ngày 12/01/2012 và trả lại số tiền 2.500.000đ mà ông đã nộp phạt.
2. Quá trình giải quyết
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2023/QĐST-HC ngày 10/8/2023, TAND huyện Đ nhận định ông Đào Tiến S đã nhận và biết được 02 Quyết định xử phạt hành chính số 04/QĐ-XPHC và Quyết định xử phạt hành chính số 05/QĐ-XPHC cùng ngày 12/01/2012 của Chủ tịch UBND xã P vào ngày 11/12/2019 nhưng đến năm 2022 ông S mới khởi kiện đối với hai quyết định này và số tiền nộp phạt có liên quan đến hai quyết định này là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 Luật TTHC nên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trên.
Ngày 23/8/2023, ông Đào Tiến S có đơn kháng cáo.
Tại Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 01/2024/QĐ-PT ngày 29/01/2024 TAND tỉnh Quảng Ngãi tuyên hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2023/QĐST-HC ngày 10/8/2023 của TAND huyện Đ, chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Đ tiếp tục giải quyết vụ án.
3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có một số vi phạm như sau:
- Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung, ông Đào Tiến S yêu cầu Tòa án giải quyết: “Tuyên bố hành vi hành chính của Chủ tịch UBND xã P vi phạm thời hạn giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho người bị xử phạt; buộc Chủ tịch UBND xã P phải giao cho ông quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên; buộc Chủ tịch UBND xã P hủy bỏ các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC và số 05/QĐ-XPHC cùng ngày 12/01/2012 và trả lại số tiền 2.500.000đ mà ông đã nộp phạt” là xác định không đúng hành vi hành chính bị kiện như “Tuyên bố Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P” và chưa xác định cụ thể yêu cầu khởi kiện là giao quyết định xử phạt hành chính cho người bị xử phạt, giao cho ông Đào Tiến S quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu ông S sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện mà tiến hành thụ lý là chưa đảm bảo.
- Theo yêu cầu khởi kiện, ông Đào Tiến S chỉ khởi kiện các hành vi hành chính của Chủ tịch UBND xã P, không yêu cầu Tòa án tuyên hủy các quyết định hành chính của Chủ tịch UBND xã P nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật trong vụ án: “Khiếu kiện hành vi hành chính và quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P” là chưa chính xác.
- Đối chiếu đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết 04 nội dung nhưng tại Thông báo thụ lý vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã không thụ lý yêu cầu khởi kiện: “Buộc Chủ tịch UBND xã P phải giao cho ông quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên” của ông S, không nhận định về hành vi hành chính này là bỏ sót yêu cầu của người khởi kiện, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
- Đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Đào Tiến S về việc: “Buộc Chủ tịch UBND xã P hủy bỏ các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC và số 05/QĐ-XPHC cùng ngày 12/01/2012 và trả lại số tiền 2.500.000đ mà ông đã nộp phạt” là không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án vì theo quy định tại Điều 193 Luật Tố tụng hành chính thì Tòa án có quyền chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên bố hành vi hành chính là trái pháp luật, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có); buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chấm dứt hành vi hành chính trái pháp luật. Theo quy định trên, Tòa án không có thẩm quyền buộc cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. Lẽ ra, khi nhận được yêu cầu khởi kiện này, cấp sơ thẩm phải căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 123 Luật TTHC để trả lại đơn khởi kiện cho ông Đào Tiến S, trường hợp đã thụ lý thì phải căn cứ điểm h khoản 1 Điều 143 Luật TTHC để đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên nhưng cấp sơ thẩm vẫn thụ lý giải quyết là không đúng quy định.
Trong vụ án này, ông Đào Tiến S không yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC cùng ngày 12/01/2012 của Chủ tịch UBND xã P mà chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết “Buộc Chủ tịch UBND xã P…”, nhưng cấp sơ thẩm căn cứ ngày ông S biết được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC cùng ngày 12/01/2012 để đình chỉ giải quyết vụ án vì hết thời hiệu khởi kiện là không đúng quy định tại Điều 116 Luật TTHC.
Vì có những vi phạm nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, quyết định hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2023/QĐST-HC ngày 10/8/2023 của TAND huyện Đ, chuyển hồ sơ vụ án cho TAND huyện Đ để tiếp tục giải quyết vụ án.
Trong vụ án này, Kiểm sát viên được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án và tham gia phiên toà đã nghiên cứu hồ sơ không kỹ, quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, dẫn đến quyết định đình chỉ giải quyết vụ án bị cấp phúc thẩm tuyên huỷ. Qua công tác kiểm sát, theo dõi việc giải quyết các vụ án hành chính của cấp sơ thẩm nhận thấy cấp huyện thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính trong thời gian qua với số lượng ít nên còn thiếu kinh nghiệm, dễ mắc phải những thiếu sót, vi phạm. Do đó, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính trong thời gian đến, Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Thông báo rút kinh nghiệm nêu trên để Viện KSND các huyện, thành phố, thị xã cùng tham khải, rút kinh nghiệm chung./.
Việt Vương