Thứ Năm, 04/06/2026

Quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh – kinh nghiệm từ pháp luật dân sự Trung Quốc

03/06/2026 - 08:23 | Trao đổi pháp luật

Trần Văn Song

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi

Nguyễn Thị Trà My

Giảng viên Khoa PLDS&KSDS, Trường Đại học Kiểm sát

Tóm tắt: Quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh là cơ chế pháp lý quan trọng để cân bằng lợi ích giữa bên nhận bảo lãnh (chủ nợ) và bên bảo lãnh. Nghiên cứu pháp luật dân sự Trung Quốc và Việt Nam cho thấy quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh đều đã được pháp điển hóa ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam mới dừng lại ở sự ghi nhận gián tiếp, chưa ghi nhận nó như một quyền năng độc lập. Trong khi đó, pháp luật dân sự Trung Quốc đã quy định và gọi tên “quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh”. Bài viết sẽ phân tích những khía cạnh pháp lý về quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh, trong đó tập trung nghiên cứu, so sánh pháp luật dân sự của Trung Quốc từ đó có một số gợi mở cho pháp luật dân sự Việt Nam.

Từ khóa: “bảo lãnh”, “quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh”, “bên bảo lãnh”.   

1. Dẫn nhập

Trong quan hệ dân sự, bảo lãnh là một trong những biện pháp bảo đảm phổ biến và có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của giao dịch. Bản chất của bảo lãnh là việc một bên thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ chính (bên được bảo lãnh) nếu bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết. Chính vì thế, bảo lãnh luôn được xem như một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ, đồng thời thúc đẩy sự tin tưởng trong các giao dịch dân sự, thương mại.

Bàn về quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh cho thấy đây là quan hệ mang tính nghĩa vụ đơn vụ, trong đó chỉ bên bảo lãnh gánh vác nghĩa vụ [1, tr.232]. Theo đó, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh khi các điều kiện phát sinh nghĩa vụ đã đáp ứng đầy đủ. Tuy nhiên, điều này không mang tính tuyệt đối, pháp luật dân sự còn ghi nhận bên bảo lãnh có quyền từ chối thực hiện quyền yêu cầu của bên nhận bảo lãnh trong những trường hợp bên được bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ; có quyền hủy bỏ [2] với bên nhận bảo lãnh, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp trước các rủi ro hoặc trách nhiệm dân sự phát sinh từ quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh thể hiện rõ nguyên tắc cân bằng quyền và nghĩa vụ trong quan hệ dân sự. Một mặt, nó hạn chế sự lạm quyền của bên nhận bảo lãnh khi yêu cầu người bảo lãnh thực hiện thay nghĩa vụ một cách tuyệt đối; mặt khác, nó tạo ra công cụ phòng vệ cho người bảo lãnh, tránh tình trạng phải thực hiện thay nghĩa vụ ngay cả khi giao dịch chính tiềm ẩn khuyết tật có thể bị vô hiệu hoặc bên nhận bảo lãnh có thể bị đối trừ nghĩa vụ.

Ở góc độ so sánh luật, quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh được pháp luật Trung Quốc thừa nhận một cách rõ ràng và minh thị. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam mới chỉ gián tiếp ghi nhận quyền này tại một số điều khoản, mà chưa định danh và khái quát hóa thành một quyền năng độc lập. Chính vì vậy, việc nghiên cứu so sánh quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh trong pháp luật dân sự Trung Quốc và Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng. Nó không chỉ giúp nhận diện rõ hơn cơ chế bảo vệ bên bảo lãnh, mà còn gợi mở nhiều định hướng cho việc hoàn thiện Bộ luật Dân sự Việt Nam trong tương lai.

2. Những khía cạnh pháp lý của Quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh theo pháp luật Trung Quốc

2.1. Các trường hợp được quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh

Về nguyên tắc, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay bên được bảo lãnh nếu đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Tuy nhiên, để bảo vệ bên bảo lãnh, pháp luật Trung Quốc có quy định cụ thể, rõ ràng và gọi tên “Quyền từ chối thực hiện của người bảo lãnh” theo đó bên bảo lãnh có quyền được từ chối thực hiện nghĩa vụ cho bên nhận bảo lãnh trong một số trường hợp. Cụ thể, Điều 702 BLDS Trung Quốc năm 2020 quy định về Quyền từ chối thực hiện của người bảo lãnh: “Nếu người mang trái vụ được hưởng quyền bù trừ hoặc quyền hủy bỏ đối với người có trái quyền thì bên bảo lãnh có thể từ chối chịu trách nhiệm bảo lãnh tương ứng trong phạm vi đó”[3]. Như vậy,  pháp luật Trung Quốc quy định bên bảo lãnh có thể viện dẫn bù trừ nghĩa vụ, quyền hủy bỏ của bên được bảo lãnh để từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, dựa trên việc bên được bảo lãnh có quyền bù trừ hoặc quyền hủy bỏ nghĩa vụ.

Thứ nhất, quyền từ chối thực hiện của người bảo lãnh liên quan đến bên được bảo lãnh được hưởng bù trừ nghĩa vụ.

Bù trừ nghĩa vụ được hiểu là một thủ tục trí tuệ có tác dụng chấm dứt các nghĩa vụ hỗ tương của hai người bằng cách thực hiện nghĩa vụ trong suy nghĩ: thay vì mỗi người thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người còn lại một cách máy móc, hai bên lập một bài toán trừ và chỉ thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng với hiệu số của bài toán trừ đó”[4, tr. 398]. Theo đó, bù trừ nghĩa vụ theo pháp luật dân sự Trung Quốc, chủ yếu liên quan đến Điều 568 và Điều 569 quy định hai loại bù trừ nghĩa vụ: (i) bù trừ trái vụ theo quy định pháp luật; và (ii) bù trừ trái vụ theo thỏa thuận;

(i) bù trừ trái vụ theo quy định pháp luật

Điều 568 BLDS Trung Quốc năm 2020 đã quy định các điều kiện bù trừ bao gồm: (1) chỉ cần người mang trái vụ có quyền bù trừ, không cần người có trái quyền đồng thời có quyền bù trừ; (2) cùng chủng loại, phẩm chất của đối tượng trái vụ tương đồng nhau; (3) trái vụ đối phương đã đến hạn (nghĩa vụ của bên kia đã đến hạn thực hiện); và (4) không có thỏa thuận cấm bù trừ hoặc theo quy định của pháp luật. Theo BLDS Trung Quốc về bù trừ theo quy định của pháp luật - đây là dạng bù trừ “mặc nhiên”, khi có đủ điều kiện thì phát sinh hiệu lực mà không cần phải có thỏa thuận của cả hai bên. Như vậy, nếu hai bên, bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh vừa là chủ nợ, vừa là con nợ của nhau, thì khi nghĩa vụ đến hạn, một bên có thể “tự động” lấy khoản mình nợ đối phương để cấn trừ khoản đối phương nợ mình.

(ii) bù trừ trái vụ theo thỏa thuận

Bù trừ theo thỏa thuận không thuộc về hệ thống bù trừ, thực ra nó là một hành vi pháp lý của cả hai bên, kết quả của sự gặp gỡ ý chí và thỏa thuận của cả hai bên là tạo ra một hợp đồng mới độc lập [5] và kết quả của sự gặp gỡ ý chí là một hợp đồng độc lập mới với mục đích chấm dứt nghĩa vụ giữa các bên. Do vậy, bù trừ trái vụ theo thỏa thuận hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.

Điều kiện áp dụng Điều 569 BLDS Trung Quốc năm 2020 để bù trừ theo thỏa thuận là: (1) các đương sự mang trái vụ qua lại; (2) chủng loại, phẩm chất của đối tượng trái vụ không tương đồng; và (3) hiệp thương nhất trí. Việc bù trừ theo thỏa thuận không hình thành “tự động” mà phụ thuộc vào sự đồng ý của hai bên nhằm chấm dứt nghĩa vụ bằng cách lấy nghĩa vụ này trừ nghĩa vụ kia, kể cả khi đối tượng nghĩa vụ khác nhau.

Khác với pháp luật dân sự Trung Quốc, theo quy định của BLDS Việt Nam không có dạng bù trừ theo thỏa thuận. Trong khung cảnh luật thực định (khoản 1 Điều 378 BLDS Việt Nam năm 2015) quy định: “Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau thì cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác”. Luận bàn thành tố bù trừ nghĩa vụ khoa học pháp lý dân sự Việt Nam quy định: (1) cả hai bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; (2) nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau; (3) các nghĩa vụ được bù trừ cùng đến thời hạn; và (4) bù trừ nghĩa vụ không thuộc trường hợp pháp luật không cho phép.

Pháp luật dân sự Việt Nam quy định bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh (khoản 3 Điều 339 BLDS năm 2015). Qua đó có thể thấy, quy định của pháp luật Trung Quốc và Việt Nam khá tương đồng, chỉ khác nhau ở việc: thứ nhất, BLDS Trung Quốc quy định cụ thể là “quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh”, còn BLDS Việt Nam chưa đặt tên quyền năng này; thứ hai, kỹ thuật lập pháp trong pháp luật dân sự Việt Nam không quy định tại một điều khoản riêng về quyền của người bảo lãnh như pháp luật dân sự Trung Quốc. Ngoài ra, pháp luật dân sự Trung Quốc tạo ra môi trường bù trừ nghĩa vụ thông thoáng hơn so với bù trừ nghĩa vụ theo pháp luật dân sự Việt Nam khi cho phép các bên có quyền thỏa thuận bù trừ.

Thứ hai, quyền từ chối của bên bảo lãnh liên quan đến quyền hủy bỏ của bên được bảo lãnh.

BLDS Trung Quốc quy định người bảo lãnh có thể từ chối chịu trách nhiệm bảo lãnh với lý do bên được bảo lãnh có quyền hủy bỏ với bên nhận bảo lãnh. Khi bàn luận quyền hủy bỏ của bên được bảo lãnh, giới luật gia lẫn hoạch định chính sách cho rằng quyền hủy bỏ chỉ bao gồm các trường hợp do vi phạm nguyên tắc tự nguyện, công bằng, do nhầm lẫn, lừa dối, cưỡng ép, hoặc lợi dụng tình thế quy định từ Điều 147 đến Điều 151 BLDS Trung Quốc năm 2020[6; 7, tr.52]và nếu rơi vào các trường hợp nêu trên bên được bảo lãnh có quyền hủy bỏ, thì bên bảo lãnh được từ chối nghĩa vụ bảo lãnh.

Như vậy, pháp luật Trung Quốc quy định bên được bảo lãnh có thể viện dẫn việc bên được bảo lãnh có quyền hủy bỏ để từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trong khi đó, BLDS Việt Nam cũng có quy định các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do sự ưng thuận. Tuy nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam lại không quy định cụ thể về trường hợp bên bảo lãnh được hưởng quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi giao dịch dân sự vô hiệu.

2.2. Mối liên hệ giữa quyền từ chối thực hiện của người bảo lãnh với thỏa thuận triệt tiêu quyền từ chối thực hiện với bên nhận bảo lãnh

Luận bàn khi bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh thỏa thuận triệt tiêu quyền từ chối thực hiện, pháp luật Trung Quốc không xây dựng một điều khoản riêng biệt về thỏa thuận triệt tiêu quyền từ chối thực hiện với bên nhận bảo lãnh. Tuy nhiên, khảo cứu các công trình luật học của nhiều học giả Trung Quốc, đều cho rằng Điều 702 BLDS Trung Quốc năm 2020 thiết lập quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh như một quy phạm tùy nghi[8, tr.175]. Điều này có nghĩa, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh có thể thỏa thuận loại trừ việc áp dụng Điều 702 BLDS Trung Quốc năm 2020, tức là giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh có thể thỏa thuận loại bỏ quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh. Khi lập luận về việc pháp luật dân sự Trung Quốc cho phép thỏa thuận triệt tiêu quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh, giới luật gia lẫn hoạch định chính sách cho rằng: thứ nhất, sự từ bỏ của bên bảo lãnh thông qua thỏa thuận loại trừ nói trên chỉ là sự từ bỏ một quyền mang tính bảo vệ tạm thời; thứ hai, ngay cả khi người bảo lãnh đồng ý triệt tiêu quyền thì nguyên tắc tính phụ thuộc của bảo lãnh vẫn được duy trì; và thứ ba, kỹ thuật lập pháp Điều 702 BLDS Trung Quốc năm 2020 được xây dựng dựa trên Điều 770 BLDS Đức 1900[7, tr.45] và thực tiễn xét xử tại Đức đều công nhận thỏa thuận triệt tiêu quyền của các bên khi giao kết hợp đồng [9; 8, tr.175-176]. Đáng lưu ý, nếu các bên thỏa thuận loại trừ việc áp dụng điều khoản này sau khi giao kết hợp đồng bảo lãnh, thỏa thuận đó bắt buộc phải được lập thành văn bản [8, tr. 176].

Như vậy, pháp luật Trung Quốc, nhà làm luật thiết kế quyền từ chối thực hiện như một quyền năng tùy nghi, cho phép các bên loại trừ bằng thỏa thuận, qua đó dung hòa lợi ích và sự an toàn của bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Đối chiếu với Việt Nam, dễ nhận thấy nhà làm luật Việt Nam chưa thiết lập một cơ chế pháp lý tường tận cho quyền từ chối thực hiện; pháp luật không quy định rõ và các luật gia trong nước chưa có những công trình bàn sâu về vấn đề này. Sự im lặng ấy, ở bình diện kỹ thuật, tạo ra khoảng trống lập pháp; còn ở bình diện lý luận, để ngỏ cho giới học thuật một câu hỏi để truy tìm căn nguyên và đề xuất hoàn thiện.

Theo quan niệm của nhóm tác giả, việc pháp luật cho phép các bên triệt tiêu quyền, mặc dù có quan điểm phản đối cho rằng điều đó có thể dẫn đến tình trạng bên bảo lãnh rơi vào vị thế bất lợi trong quan hệ nghĩa vụ (nhằm bảo đảm rằng quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh không bị vô hiệu hóa bằng sự thoả thuận thiếu cân bằng giữa các bên kể từ khi biểu lộ ý chí), song nhóm tác giả cho rằng lập luận này chưa thuyết phục. Bởi lẽ, trong giao lưu dân sự, nguyên tắc tự do ý chí và “việc dân sự cốt ở đôi bên” phải được tôn trọng; đồng thời, bên bảo lãnh không phải là bên yếu thế khi giao kết hợp đồng, do đó, pháp luật không nên can thiệp vào trường hợp này. Ngoài ra, nếu bên bảo lãnh sẵn sàng gánh chịu rủi ro lớn hơn để đổi lấy lợi ích khác từ hợp đồng (ví dụ, có được tín nhiệm, đạt mục tiêu kinh doanh, hay tạo lập quan hệ thương mại…), thì sự lựa chọn đó cần được pháp luật công nhận. Vấn đề mấu chốt không nằm ở việc có hay không cấm đoán sự triệt tiêu quyền, mà ở chỗ: thỏa thuận về việc triệt tiêu phải đáp ứng các điều kiện của luật chung về giao kết hợp đồng (chẳng hạn, tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội…). Khi đó, thỏa thuận mới có giá trị pháp lý và ràng buộc các bên.

2.3. Phạm vi tương ứng của nghĩa vụ bù trừ

Bên cạnh việc bù trừ nghĩa vụ, các trường hợp phổ biến xảy ra trên thực tế là bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh đều chịu một loại nghĩa vụ, bên được bảo lãnh có nhiều nghĩa vụ hơn bên nhận bảo lãnh. Giả sử, bên được bảo lãnh (chủ nợ) nếu chịu nhiều loại nghĩa vụ tương đồng với bên nhận bảo lãnh (con nợ) mà bên được bảo lãnh không đủ khả năng thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thì bên bảo lãnh có thể thực hiện quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh không? Ví dụ, người nợ (con nợ chính) và chủ nợ vừa là người nợ vừa là người có quyền đòi nợ  (Ví dụ A nợ B nhưng B cũng nợ lại A: A nợ B 3 khoản tiền: Khoản 1: 80 triệu đồng, đến hạn ngày 1/1, có bảo lãnh; Khoản 2: 80 triệu đồng, đến hạn ngày 1/1, không có bảo đảm; Khoản 3: 50 triệu đồng, đến hạn ngày 15/1, không có bảo đảm và A có thể bù trừ nghĩa vụ với B là 80 triệu). Trong trường hợp con nợ chính có nhiều khoản nợ cùng một chủ nợ, nhưng không đủ khả năng thanh toán tất cả. Vấn đề đặt ra, trong những trường hợp này, bên bảo lãnh có được quyền từ chối nghĩa vụ không?

Bàn về vấn đề này, BLDS Trung Quốc quy định người mang trái vụ vẫn có thể tự chỉ định khoản trái vụ bù trừ, bao gồm cả nghĩa vụ bên bảo lãnh đã bảo đảm, do vậy, bên bảo lãnh vẫn có quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh[11] hoặc nếu bên được bảo lãnh bù trừ nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh nhưng không chỉ định cụ thể thì lúc này có thể áp dụng thứ tự ưu tiên thanh toán theo khoản 2 Điều 560 BLDS Trung Quốc. Tuy nhiên, thứ tự ưu tiên thanh toán lại xếp nghĩa vụ được bảo lãnh vào hàng cuối cùng và sẽ có trường hợp bên bảo lãnh không còn quyền từ chối. Như vậy, BLDS Trung Quốc cho phép con nợ chính tự lựa chọn nghĩa vụ nào sẽ dùng để bù trừ, kể cả nghĩa vụ đã được bảo lãnh. Nếu con nợ không chỉ định, thì áp dụng thứ tự ưu tiên thanh toán (Điều 560 BLDS Trung Quốc). Trong thứ tự đó, nghĩa vụ được bảo lãnh bị xếp cuối cùng, nên nhiều khi bên bảo lãnh mất quyền từ chối (vì khoản bảo lãnh vẫn còn hiệu lực).

Khác với Trung Quốc, pháp luật dân sự Việt Nam quy định khi bù trừ nghĩa vụ cho nhau mà giá trị nghĩa vụ bù trừ cao hơn so với nghĩa vụ thì sẽ áp dụng quy định tại các khoản 2 và khoản 3 Điều 378 BLDS năm 2015[12], tuy nhiên, quy định trong pháp luật Việt Nam quy định còn có phần khiêm tốn và hạn hẹp, chưa rõ ràng trong việc xử lý nghĩa vụ có bảo lãnh, dẫn đến khó xác định khi nào bên bảo lãnh có quyền từ chối.

3. Kiến nghị

Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh được quy định tại khoản 3 Điều 339 BLDS năm 2015: “Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh”. Có thể thấy, quy định của pháp luật Trung Quốc và Việt Nam khá tương đồng khi pháp luật của hai quốc gia này đều cho phép bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi bên nhận bảo lãnh có quyền bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh (do đó nghĩa vụ bảo lãnh không còn hoặc giảm đi). Tuy nhiên, BLDS Việt Nam lại không quy định về dạng bù trừ theo thỏa thuận giữa các bên giống như pháp luật Trung Quốc mà chỉ quy định về bù trừ nghĩa vụ theo pháp luật tại khoản 1 Điều 378 BLDS năm 2015 và cũng chưa có quy định cụ thể về việc có nhiều nghĩa vụ bù trừ trong đó có nghĩa vụ bảo lãnh thì xử lý như thế nào? Bàn về thực hiện quyền từ chối khi giao dịch dân sự bị vô hiệu, BLDS Việt Nam cũng có quy định các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do sự ưng thuận. Tuy nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam lại không quy định cụ thể về trường hợp bên bảo lãnh được hưởng quyền từ chối thực hiện khi giao dịch dân sự vô hiệu. 

Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy pháp luật dân sự Trung Quốc và Việt Nam đều có những điểm gặp gỡ nhất định về quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh. Tuy nhiên, đi sâu vào kỹ thuật lập pháp, sự khác biệt lại bộc lộ rõ. Pháp luật dân sự Trung Quốc đã xây dựng cơ chế cho phép bên bảo lãnh viện dẫn bù trừ nghĩa vụ và quyền hủy bỏ của con nợ chính một cách chặt chẽ và minh thị, thì pháp luật Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc quy định gián tiếp về bù trừ nghĩa vụ. Chính sự thiếu vắng quy định cụ thể về quyền hủy bỏ của bên được bảo lãnh dẫn đến việc cơ chế thực hiện quyền từ chối của bên bảo lãnh theo pháp luật dân sự Việt Nam trở nên hạn hẹp hơn, trong đó có một số khía cạnh pháp luật Việt Nam có thể tham khảo pháp luật của Trung Quốc để hoàn thiện hơn, cụ thể:

Thứ nhất, cần bổ sung một điều khoản riêng biệt trong BLDS quy định về quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh, được thiết kế theo mô hình của pháp luật Trung Quốc. Phương thức phòng vệ của Trung Quốc (Điều 702 BLDS năm 2020) cho phép bên bảo lãnh viện dẫn quyền bù trừ của bên được bảo lãnh để từ chối thực hiện nghĩa vụ. Trong khi đó, hiện nay, BLDS Việt Nam chưa có điều khoản riêng biệt đặt tên và xác định nội hàm của quyền này. Quyền từ chối chỉ được hiểu gián tiếp qua quy định Điều 339. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh  tại khoản 3:“bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh”, mà chưa đặt tên rõ ràng là “quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh” và chưa nhấn mạnh tính chất quyền năng của cơ chế này. Việc bổ sung điều khoản riêng và sử dụng thuật ngữ “quyền từ chối thực hiện” sẽ bảo đảm rõ ràng về mặt kỹ thuật lập pháp. Như vậy, cần xây dựng một điều luật độc lập (tương tự Điều 702 BLDS Trung Quốc), quy định rõ phạm vi, điều kiện và giới hạn của quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Thứ hai, quy định về quyền từ chối của bên bảo lãnh trong trường hợp bù trừ nghĩa vụ

Một là, cần mở rộng phạm vi quyền từ chối của bên bảo lãnh trong trường hợp bù trừ nghĩa vụ. Pháp luật Việt Nam hiện chỉ quy định bù trừ nghĩa vụ trong trường hợp cùng loại tài sản, đến hạn và không thuộc trường hợp cấm (Điều 378 BLDS năm 2015). Tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc để cho phép áp dụng bù trừ theo thỏa thuận (không chỉ giới hạn ở cùng loại tài sản).

Hai là, liên quan đến trường hợp con nợ chính có nhiều khoản nợ cùng một chủ nợ, nhưng không đủ khả năng thanh toán tất cả. Trong trường hợp này, bên bảo lãnh có được quyền từ chối nghĩa vụ không? Có thể tham khảo trực tiếp mô hình Điều 560 BLDS Trung Quốc để xây dựng thứ tự ưu tiên trong bù trừ theo hướng minh bạch và tiên liệu được rủi ro. Điều này sẽ bảo vệ tốt hơn lợi ích của bên bảo lãnh khi con nợ chính và chủ nợ có quan hệ nghĩa vụ chồng chéo.

Thứ ba, cần bổ sung quy định tương tự như pháp luật dân sự Trung Quốc khi bên bảo lãnh được hưởng quyền hủy bỏ trong trường hợp bên được bảo lãnh có quyền này. Quyền hủy bỏ là công cụ pháp lý quan trọng để loại bỏ nghĩa vụ phát sinh từ những giao dịch có khuyết tật ưng thuận như trong các trường hợp như giao kết do nhầm lẫn, lừa dối, bị cưỡng ép…. Pháp luật Trung Quốc công nhận bên bảo lãnh có thể viện dẫn quyền hủy bỏ của bên được bảo lãnh như một biện pháp phòng vệ, qua đó từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định trường hợp này, dẫn đến khoảng trống bảo vệ bên bảo lãnh khi nghĩa vụ chính tồn tại trên cơ sở một giao dịch dân sự vô hiệu. Do vậy, nhóm tác giả kiến nghị bổ sung quy định cho phép bên bảo lãnh được viện dẫn việc bên được bảo lãnh có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (trong các trường hợp như giao kết do nhầm lẫn, lừa dối, bị cưỡng ép…) để từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Thứ tư, về thỏa thuận triệt tiêu quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh, pháp luật dân sự Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc. Trong khung cảnh luật thực định của Trung Quốc, không chỉ ghi nhận minh thị quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh, mà còn cho phép các bên thỏa thuận loại trừ quyền này, với điều kiện phải lập thành văn bản. Cách tiếp cận đó mở ra sự linh hoạt cần thiết cho các giao dịch dân sự sử dụng bảo lãnh là phương thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có cơ chế pháp lý tường tận về quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh và cũng chưa quy định về thỏa thuận triệt tiêu quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh. Vì vậy, việc cho phép các bên thỏa thuận triệt tiêu quyền từ chối thực hiện của bên bảo lãnh, sẽ giúp pháp luật dân sự Việt Nam vừa bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí, vừa cân bằng hợp lý lợi ích của các bên.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Ngọc Điện (2024), Giáo trình pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Trường Đại học mở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

2. Tương tự với bản chất “giao dịch dân sự vô hiệu” trong pháp luật Việt Nam.

3. Các quy định của BLDS Trung Quốc năm 2020 trong bài viết này được tham khảo bản dịch Tiếng Việt tại: Lê Khánh Linh và các tác giả (2024), BLDS Trung Quốc 2020 – Bản dịch và lược giải, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Nguyễn Ngọc Điện (2025), Giáo trình Luật dân sự 2, Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh,  Nxb. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2025.

5. Chen Qi Gui (2021), 《民法典》实施后的抵销制度 [Chế định bù trừ sau khi BLDS 2020 có hiệu lực], nguồn: https://www.zhilinlaw.com/public/upload/files/20210127/%E5%BF%97%E9%9C%96%E9%87%91%E8%9E%8D%E6%B3%95%E5%BE%8B%E8%AF%84%E8%AE%BA-2021%E5%B9%B4%E7%AC%AC1%E6%9C%9F.pdf, truy cập ngày: 26/5/2025.

6. Thứ nhất, người mang trái vụ dựa trên sự hiểu lầm nghiêm trọng mà giao kết hợp đồng với người có trái quyền, do đó người mang trái vụ có quyền hủy bỏ hợp đồng này (Điều 147); thứ hai, người có trái quyền dùng thủ đoạn lừa dối khiến người mang trái vụ giao kết hợp đồng trong tình huống trái ngược với ý tứ chân thực, người mang trái vụ có quyền hủy bỏ hợp đồng (Điều 148); thứ ba, người thứ ba lừa dối đối với người mang trái vụ khiến họ giao kết hợp đồng trong tình huống trái ngược với ý tứ chân thực, và người có trái quyền biết hoặc trách nhiệm phải biết, người mang trái vụ có quyền hủy bỏ hợp đồng (Điều 149); thứ tư, người có trái quyền và người thứ ba dùng thủ đoạn uy hiếp khiến người mang trái vụ thực hiện giao kết hợp đồng trong tình huống trái ngược với ý tứ chân thực thì bên bị uy hiếp có quyền hủy bỏ hợp đồng (Điều 150); và thứ năm, người có trái quyền lợi dụng người mang trái vụ ở vào các tình hình như trạng thái nguy hiểm khó khăn, thiếu năng lực phán đoán dẫn đến giao kết hợp đồng trong tình trạng rõ ràng không công bằng, người mang trái vụ có quyền hủy bỏ hợp đồng (Điều 151).

7. Cheng Xiao (2020), 论《民法典》第702条上的保证人抗辩权 [Bàn về quyền kháng biện của người bảo lãnh theo Điều 702 của BLDS], Tạp chí Bình luận Pháp luật Toàn cầu, số 6 năm 2020, nguồn: https://globallawreview.ajcass.com/UploadFile/Issue/ngf1ellz.pdf, truy cập ngày: 08/7/2025.

8. Wang Meng (2025), 《民法典》第702条(保证人援引债务人抵销权或撤销权以作抗辩)评注 [Bình luận Điều 702 BLDS (về việc người bảo lãnh viện dẫn quyền bù trừ hoặc quyền hủy bỏ của người vay nợ để kháng biện], Tạp chí Luật gia, số 1 năm 2025.

9. MüKoBGB/Habersack BGB § 770, Rn.4; nguồn: https://beck-online.beck.de/Dokument?vpath=bibdata%2Fkomm%2Fmuekobgb_9_band7%2Fbgb%2Fcont%2Fmuekobgb.bgb.p770.htm&pos=3&hlwords=onhttps://www.leinemann-partner.de/newsletter/neues-zum-baurecht-2-2022/formularmaessiger-ausschluss-der-einrede-der-anfechtbarkeit-nach-%C2%A7-770-abs-1-bgb-wirksa/, truy cập ngày 05/9/2025.

10. Điều 685 BLDS Trung Quốc năm 2020: “Hợp đồng bảo lãnh có thể là hợp đồng bằng văn bản được giao kết độc lập, cũng có thể là điều khoản bảo lãnh trong hợp đồng trái quyền trái vụ chính”.

11. Xem thêm: Điều 560 BLDS Trung Quốc năm 2020.

12. “2. Trường hợp giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch.

      3. Những vật được định giá thành tiền cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền”.

Tạp chí Kiểm sát số 10/2026

Tin mới