Thứ Bảy, 04/04/2026

Bàn về Điều 243 BLTTHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025

14/08/2025 - 16:20 | Trao đổi pháp luật

1. Lý do, mục đích sửa đổi, bổ sung

Trước khi được sửa đổi, bổ sung Điều 243 BLTTHS 2015 quy định khá đầy đủ về nội dung của bản cáo trạng, tuy nhiên chưa quy định các tình huống đặc biệt như bị can vắng mặt, bỏ trốn hoặc ở nước ngoài mà không thể giao cáo trạng hoặc tiến hành lấy lời khai.
Thực tiễn tố tụng cho thấy, việc chờ đợi vô thời hạn để tống đạt cáo trạng trong những trường hợp này đã dẫn đến đình trệ quá trình truy tố, nhất là khi bị can cố tình lẩn tránh pháp luật. Vì vậy, ngày 27/6/2025, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung, trong đó có Điều 243 BLTTHS, với mục đích tạo hành lang pháp lý để truy tố vắng mặt trong trường hợp bất khả kháng, đảm bảo tính liên tục của tố tụng hình sự, tránh để vụ án kéo dài vì không giao được cáo trạng, hợp pháp hóa cơ chế niêm yết công khai bản cáo trạng, bảo đảm nguyên tắc minh bạch và quyền bào chữa của bị can và làm cơ sở để liên ngành ban hành hướng dẫn thống nhất trên toàn quốc.

2. So sánh điều 243 BLTTHS năm 2015 và Điều 243 BLTTHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025

-Nội dung

Điều 243 BLTTHS 2015

Điều 243 BLTTHS 2015

(sửa đổi, bổ sung 2025)

-Tên điều luật:

Điều 243. Quyết định truy tố bị can

Điều 243. Quyết định truy tố bị can

Khoản 1 - Quy định chung

Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.

Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng.

Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.

1. Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.

Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng.

Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.

Khoản 2

(Không có)

2. Viện kiểm sát có thể quyết định truy tố bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này trong các trường hợp sau:a) Bị can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nã không có kết quả;b) Bị can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ các hoạt động nhằm quyết định việc truy tố.

Khoản 3

(Không có)

3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng theo quy định tại khoản 2 Điều này, cáo trạng phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.

Khoản 4

(Không có)

4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.

3. Ưu điểm và hạn chế

3.1. Ưu điểm

Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự sau khi được sửa đổi, bổ sung đã mang lại những điểm mới thể hiện rõ rệt cho tính chủ động và sự thông suốt của quá trình tố tụng. Viện kiểm sát có thẩm quyền hiện nay có thể quyết định truy tố bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa, ngay cả trong các trường hợp đặc biệt như bị can trốn, không rõ tung tích và việc truy nã không đạt kết quả, hoặc bị can đang ở nước ngoài nhưng không thể triệu tập để thực hiện các hoạt động nhằm quyết định việc truy tố. Quy định này khắc phục được sự ràng buộc cứng nhắc trước đây, vốn yêu cầu bị can phải có mặt mới được truy tố, từ đó giúp vụ án được giải quyết kịp thời, đặc biệt trong bối cảnh tội phạm xuyên quốc gia ngày càng phổ biến.

Ngoài ra, việc bổ sung cơ chế niêm yết công khai bản cáo trạng theo Khoản 3 Điều 243 BLTTHS tạo điều kiện để bị can, gia đình, người bào chữa và các bên liên quan có thể tiếp cận thông tin vụ án, góp phần nâng cao tính minh bạch trong hoạt động tố tụng. Việc cụ thể hóa tình huống truy tố bị can ra trước Tòa án dù không thể giao trực tiếp bản cáo trạng cũng đặt nền tảng cho các thủ tục tiếp theo như xét xử vắng mặt, ra quyết định truy nã mới, hoặc xử lý vật chứng. Vì vậy, bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được thông suốt.

3.2. Hạn chế

Quy định mới tại Điều 243 BLTTHS sửa đổi, bổ sung 2025 tuy tháo gỡ được nhiều khó khăn, tuy nhiên cũng tiềm ẩn những hạn chế nhất định. Trước hết, quyền đối chất và quyền tự bào chữa của bị can khi xét xử vắng mặt có thể bị hạn chế, làm hạn chế quyền tranh tụng, đây là yếu tố nhạy cảm, đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng để bảo đảm không vi phạm Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật được quy định tại Điều 9 BLTTHS. Thứ hai, nguy cơ lạm dụng quy định là điều không thể bỏ qua, nhất là trường hợp khi “truy nã không kết quả” hoặc “không thể triệu tập” cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được đầy đủ dẫn đến vi phạm thủ tục tố tụng và quyền con người.

4. Kiến nghị hoàn thiện

Hiện nay, việc truy tố vắng mặt bị can được quy định tại Điều 4 và Điều 6 Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; trong đó, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng được quy định tại khoản 2 Điều 8 của Thông tư này. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, bảo đảm việc áp dụng Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự được thực hiện thống nhất và đúng quy định.

Tuy nhiên, để phát huy tối đa ưu điểm và hạn chế những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, cần tăng cường công tác kiểm sát của cấp trên đối với mọi quyết định truy tố vắng mặt, bảo đảm các quyết định này được ban hành trên cơ sở pháp luật, có căn cứ và được hỗ trợ bởi hệ thống chứng cứ đầy đủ, hợp pháp. Đồng thời, cần sớm ban hành hướng dẫn liên ngành với quy định cụ thể về điều kiện áp dụng truy tố vắng mặt, thủ tục và hình thức niêm yết cáo trạng, cũng như các biện pháp bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa của bị can.

5. Kết luận

Việc bổ sung các khoản 2, 3 và 4 vào Điều 243 BLTTHS đánh dấu một bước điều chỉnh đáng kể, góp phần nâng cao khả năng ứng phó của tố tụng hình sự Việt Nam trước những dạng tội phạm có tính chất phức tạp, xuyên quốc gia. Dù vậy, do đây là cơ chế mang tính ngoại lệ, quá trình áp dụng cần được thực hiện thận trọng, bảo đảm tính minh bạch và chịu sự giám sát chặt chẽ, qua đó duy trì sự cân bằng giữa quyền truy tố của Nhà nước và quyền con người được pháp luật bảo đảm.

Trên đây là quan điểm của cá nhân, rất mong sự góp ý, đóng góp của các độc giả.

Đỗ Đặng Kiều Duyên - Chuyên viên VKSND khu vực 6

Tin mới