07:01 ICT Thứ năm, 02/04/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 15

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 14


Hôm nayHôm nay : 1693

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 9096

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 937464

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Vướng mắc trong việc xử lý đối với hành vi sử dụng tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức

Thứ tư - 28/08/2019 10:17
Theo quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 thì“Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”.
+Nội dung vướng mắc thứ nhât:
Quy định hành vi khách quan trong cấu thành cơ bản của tội phạm Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật đã có hai cách hiểu và áp dụng xử lý khác nhau: 
Quan điểm thứ nhất cho rằng, vì khách thể của tội phạm này là xâm phạm trật tự quản lý hành chính nên người thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc sử dụng con dấu giả, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật mà hành vi trái pháp luật này là thực hiện các hành vi phạm tội   thì mới chịu trách nhiệm hình sự còn thực hiện hành vi sử dụng tài liệu giả mà không nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự thì chỉ bị xử lý hành chính.
Quan điểm này cho rằng hiện đang tồn tại một văn bản quy phạm pháp luật quy định xử lý hành chính trong lĩnh vực giáo dục, đó là Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ (NĐ 138/2013) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục tại Khoản 3, 4,5 Điều 16 quy định “…3. Phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 20.000.000đồng đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả. 4. Phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 40.000.000đồng đối với hành vi làm giả văn bằng, chứng chỉ. 5. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này…” và Khoản 5 Điều 9 quy định: “…Phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng đối với hành vi khai man, giả mạo giấy tờ trong hồ sơ tuyển sinh để được trúng tuyển…”.
          Quan điểm thứ hai cho rằng, người thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc sử dụng con dấu giả, tài liệu giả của cơ quan tổ chức nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật là bất kể là hành vi vi phạm pháp luật nào kể cả hình sự, hành chính…đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này (Quan điểm này giống với phần bình luẩn của chủ biên tác giả tiến sỹ Nguyễn Đức Mai, quyển bình luận khoa học BLHS năm 2015 - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật).
*Nội dung vướng mắc thứ hai:
Đối với một số vụ án xảy ra đến khi bị phát hiện thì đối tượng đã kịp thời tiêu hủy giấy tờ giả, chỉ thu giữ được bản photo.
 Điều 206 BLTTHS năm 2015 quy định các trường hợp bắt buộc phải giám định, quy định của điều luật chỉ bắt buộc giám định đối với tiền giả, không thấy quy định phải giám đối với tài liệu, giấy tờ giả
Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định: khi cần truy nguyên về đồ vật, tài liệu, chữ ký...  
Nhưng theo quy định của Bộ Công an thì việc giám định giấy tờ, tài liệu giả phải được thực hiện giám định trên bản gốc của tài liệu giả.
          Có quan điểm cho rằng nếu không thu giữ được bản gốc, nhưng có bản photo, bản photo có công chứng, chứng thực; đồng thời căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác như lời khai nhận tội của đối tượng; Các cơ quan, tổ chức, các cơ sở đào tạo xác định không phát hành loại tài liệu, giấy tờ đó thì không cần phải giám định mà cũng đủ căn cứ xử lý đối với hành vi làm, sử dụng tài liệu, giấy tờ giả theo Điều 341 BLHS năm 2015.
          Có quan điểm cho rằng nếu là tài liệu, giấy tờ giả mà không thu giữ được tài liệu gốc, không có kết luận giám định tài liệu, giấy tờ đó là giả hay thật thì không có căn cứ để buộc tội đối với hành vi quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015.
*Quan điểm của tác giả bài viết
+Về áp dụng quy định pháp luật để xử lý hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả:
Nghị định 138/2013 quy định xử phạt tiền đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả, nhưng lại không quy định số lượng mua, bán, sử dụng bao nhiêu văn bằng, chứng chỉ giả thì bị xử phạt theo quy định của Nghị định này (trong khi Điều 341 BLHS năm 2015 quy định trong cấu thành cơ bản thì chỉ cần có sử dụng giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật thì đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm...) . NĐ 138/2013 là văn bản quy phạm pháp luật quy định không rõ ràng, hiện đã mâu thuẫn với các quy phạm pháp luật khác mới được ban hành, do đó cần phải sửa đổi hoặc hủy bỏ để tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo và có ý kiến khác nhau trong thực tiển áp dụng xử lý.
Nghị định này chỉ quy định xử phạt trong lĩnh vực giáo dục, Nghị định được ban hành vào năm 2013. Trong khi đó BLHS năm 2015, sửa đổi 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, đây là văn bản quy phạm pháp luật mới, có giá trị pháp lý cao hơn nên đối với hành vi sử dụng con dấu giả, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật nói chung (cả hình sự, hành chính,...) đều được áp dụng quy định tại Điều 341 năm 2015 để xử lý.
Trường hợp không thu giữ được bản gốc tài liệu, giấy tờ giả nhưng có bản photo, bản photo có công chứng, chứng thực; đồng thời căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác như lời khai nhận tội của đối tượng; Các cơ quan, tổ chức xác định không phát hành loại tài liệu, giấy tờ đó (như trường Đại học có công văn trả lời: không có học viên đó học tại trường, trường không phát hành, cấp bằng tốt nghiệp cho học viên đó,...) thì không cần phải giám định mà cũng đủ căn cứ xử lý đối với hành vi làm, sử dụng tài liệu, giấy tờ giả theo Điều 341 BLHS năm 2015.
Như vậy để thống nhất trong việc xử lý hành vi làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức thì cần có sự phân định cụ thể vi phạm ở mức độ nào thì bị xử phạt hành chính, vi phạm ở mức độ nào thì truy cứu TNHS. Việc phân loại tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội để xử phạt hành chính hay truy cứu TNHS về hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả là rất cần thiết, liên ngành tư pháp Trung ương phải kịp thời có văn bản giải thích, hướng dẫn cụ thể để thực hiện.
Rất mong nhận được sự góp ý của đồng chí,  đồng nghiệp./. 
       
                       

Tác giả bài viết: Lê Thanh Loan – Phòng 3

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên