08:42 ICT Thứ hai, 01/06/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 142

Máy chủ tìm kiếm : 117

Khách viếng thăm : 25


Hôm nayHôm nay : 3629

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 3629

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1338720

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Tổng hợp một số khó khăn, vướng mắc trong công tác THQCT và KSXX án hình sự

Thứ sáu - 24/04/2020 07:42

1.  Đối với tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc:
+ Hành vi sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc (quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322), thực tiễn còn có cách hiểu và vận dụng chưa thống nhất như người bán số đề sử dụng điện thoại di động để nhận số, chuyển số,...nhưng có quan điểm chỉ xử lý về tội “Đánh bạc”, có quan điểm phải xử lý tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm d Khoản 1 Điều 322 BLHS.
+ Nhận thức như thế nào về “tổ chức” đánh bạc: chỉ cần số tiền đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá trên 20.000.000đ thì sẽ phạm tội “Tổ chức đánh bạc” hay “Đánh bạc” (ví dụ xóc bầu cua).
+ Điểm d Khoản 1 quy định: " d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc;
Vướng mắc: sau mỗi dấu ( ; ) thì cấu thành một định khung tăng nặng ( ví dụ: Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc thì đã cấu thành định khung tăng nặng), nhưng đối với cấu thành tăng nặng quy định : ...; sắp đặt lối thoát khi vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bac; Như vậy theo quy định ở tình tiết này có hai ý được cách bởi dấu  ( , ), vậy thì chỉ cần: sắp đặt lối thoát khi vây bắt hoặc sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc thì đã cấu thành định khung tăng nặng hay phải hội đủ cả hai: sắp đặt lối thoát khi vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc mới cấu thành định khung tăng nặng?
2. Đối với tội phạm liên quan đến vật liệu nổ:
Mặt khách quan trong cấu thành tội phạm của Điều 305 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng giống như Điều 232 BLHS năm 1999 và Điều 96 BLHS năm 1985 là không quy định về định lượng của vật liệu nổ trong cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, theo quy định tại mục III, Phần B Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 về hướng dẫn Điều 96 BLHS năm 1985 và Công văn số 2856/VKSTC-V2 ngày 29/5/5014 của Vụ 2 Viện KSND tối cao, lại quy định về số lượng vật phạm pháp để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, theo đó, quy định về số lượng thuốc nổ, dây cháy chậm, dây nổ, kíp mìn, nụ xùy… trong cấu thành tội phạm của tội phạm này.
         
Như vậy, để làm căn cứ định tội của tội phạm về vật liệu nổ trên thì hiện nay có phải căn cứ vào định lượng vật phạm pháp để định tội như quy định tại Thông tư 01 và công văn số 2856 của Vụ 2 VKSND tối cao hay không bởi vì theo quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì việc giải thích, hướng dẫn luật thuộc thẩm quyền của UBTVQH và Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao nên Thông tư 01 và công văn của Vụ 2 không thể là văn bản hướng dẫn thi hành BLHS được. Cần phải có văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền để hướng dẫn cụ thể về định lượng trong định tội danh của tội phạm “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ”.
3. Đối với tội làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức:
Theo quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì“Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”.
+Nội dung vướng mắc thứ nhất:
Quy định hành vi khách quan trong cấu thành cơ bản của tội phạm Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật đã có hai cách hiểu và áp dụng xử lý khác nhau: 
Quan điểm thứ nhất cho rằng, vì khách thể của tội phạm này là xâm phạm trật tự quản lý hành chính nên người thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc sử dụng con dấu giả, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật mà hành vi trái pháp luật này là thực hiện các hành vi phạm tội thì mới chịu trách nhiệm hình sự còn thực hiện hành vi sử dụng tài liệu giả mà không nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự thì chỉ bị xử lý hành chính.
Quan điểm này cho rằng hiện đang tồn tại một văn bản quy phạm pháp luật quy định xử lý hành chính trong lĩnh vực giáo dục, đó là Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ (NĐ 138/2013) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục tại Khoản 3, 4,5 Điều 16 quy định “…3. Phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 20.000.000đồng đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả. 4. Phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 40.000.000đồng đối với hành vi làm giả văn bằng, chứng chỉ. 5. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này…” và Khoản 5 Điều 9 quy định: “…Phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng đối với hành vi khai man, giả mạo giấy tờ trong hồ sơ tuyển sinh để được trúng tuyển…”.
         
Quan điểm thứ hai cho rằng, người thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc sử dụng con dấu giả, tài liệu giả của cơ quan tổ chức nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật là bất kể là hành vi vi phạm pháp luật nào kể cả hình sự, hành chính…đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này (Quan điểm này giống với phần bình luận của chủ biên tác giả tiến sỹ Nguyễn Đức Mai, quyển bình luận khoa học BLHS năm 2015 - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật).
+ Nội dung vướng mắc thứ hai:
Đối với một số vụ án xảy ra đến khi bị phát hiện thì đối tượng đã kịp thời tiêu hủy giấy tờ giả, chỉ thu giữ được bản photo.
 Điều 206 BLTTHS năm 2015 quy định các trường hợp bắt buộc phải giám định, quy định của điều luật chỉ bắt buộc giám định đối với tiền giả, không thấy quy định phải giám đối với tài liệu, giấy tờ giả
Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT- VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định: khi cần truy nguyên về đồ vật, tài liệu, chữ ký...  
Nhưng theo quy định của Bộ Công an thì việc giám định gấy tờ, tài liệu giả phải được thực hiện giám định trên bản gốc của tài liệu giả.
         
Có quan điểm cho rằng nếu không thu giữ được bản gốc, nhưng có bản photo, bản photo có công chứng, chứng thực; đồng thời căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác như lời khai nhận tội của đối tượng; Các cơ quan, tổ chức, các cơ sở đào tạo xác định không phát hành loại tài liệu, giấy tờ đó thì không cần phải giám định mà cũng đủ căn cứ xử lý đối với hành vi làm, sử dụng tài liệu, giấy tờ giả theo Điều 341 BLHS năm 2015.
Có quan điểm cho rằng nếu là tài liệu, giấy tờ giả mà không thu giữ được tài liệu gốc, không có kết luận giám định tài liệu, giấy tờ đó là giả hay thật thì không có căn cứ để buộc tội đối với hành vi quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015.
4. Đối với nhóm tội về mua bán, vận chuyên, tàng trữ,...trái phép chất ma túy:
Thực tế cho thấy, công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma túy hiện nay gặp khó khăn chủ yếu từ việc định tội danh nhất là đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy. Vì trong nhiều trường hợp việc xác định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vận chuyển trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy cũng có những khó khăn trong nhận thức. Đối với những vụ án mua bán trái phép chất ma túy mà xác định được rõ người mua, người bán thì việc xử lý không khó khăn. Tuy nhiên, trong thực tế có không ít vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng không xác định được đối tượng mua và việc chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy chủ yếu chỉ dựa và lời khai của người bị bắt. Tại Mục 3.3 Thông tư 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC- BTP ngày 24/12/2007 liệt kê các hành vi được coi là mua bán trái phép chất ma túy trong đó có hành vi: … e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác; g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. Tuy nhiên, việc chứng minh được ý thức chủ quan của người phạm tội là rất khó khăn dẫn đến tình trạng thường gặp là trong quá trình điều tra vụ án lúc đầu đối tượng khai nhận mục đích cất giấu hoặc vận chuyển ma túy nhằm mục đích bán nhưng sau đó lại thay đổi lời khai là để sử dụng dẫn đến việc phải thay đổi quyết định khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hoặc tại phiên tòa xét xử vụ án Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo phản cung, thay đổi lời khai mục đích cất giấu hoặc vận chuyển ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng dẫn đến việc Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
+ Người đại diện cho người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi được xác định theo Điều 136 Bộ luật Dân sự là cha, mẹ đối với con chưa thành niên. Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 06/2018 ngày 21/12/2018 của VKSNDTC, TANDTC, BCA, BTP, BLĐTBXH xác định cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi là người đại diện của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên trong thực tiễn xét xử có trường hợp người chưa thành niên tham gia tố tụng có cha, mẹ đã ly hôn; con chưa thành niên được giao cho mẹ hoặc cha chăm sóc, giáo dục thì xác định người đại diện hợp pháp là cha hoặc mẹ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chỉ làm việc được với người đại diện là người trực tiếp nuôi dưỡng của người chưa thành niên và tại phiên tòa chỉ có người trực tiếp nuôi dưỡng người chưa thành niên tham gia phiên tòa thì có cần thiết hoãn phiên tòa để triệu tập có mặt cả cha và mẹ của người chưa thành niên tham gia đại diện cho người chưa thành niên hay không, và Tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung để làm việc với người đại diện hợp pháp còn lại?
5.  Khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015:
Việc xác định vật, tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có: Thực tiễn xét xử cho thấy, việc áp dụng quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 47 BLHS như thế nào vẫn do nhận thức chủ quan của người tiến hành tố tụng mà chưa có một hướng dẫn cụ thể nào về việc áp dụng, dẫn đến sự tùy nghi lựa chọn biện pháp tư pháp đối với người phạm tội, nhất là đối với tội có tính chất chiếm đoạt.
Ví dụ: A trộm cắp tài sản của B, sau đó bán cho C được 2.500.000đồng, tiêu xài cá nhân hết. Trong quá trình giải quyết vụ án A đã bồi thường cho B giá trị tài sản mà A đã trộm theo giá trị của Hội đồng định giá tài sản.
Trong quá trình xét xử, việc áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu hay không tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số “tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có” của Hội đồng xét xử khi ra bản án còn quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất: phải tịch thu số tiền 2.500.000đồng trên vì đây là số tiền do phạm tội mà có nên buộc người phạm tội nộp lại số tiền trên để sung vào ngân sách nhà nước.
Quan điểm thứ hai: người phạm tội đã bồi thường cho người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (C trong ví dụ trên), do đó không áp dụng biện pháp tịch thu số tiền trên.
Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể của Hội đồng Thẩm phán TAND về áp dụng Điều 47 để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.
6. Đối với việc thay đổi KSV THQCT-KSXX:
Việc thay đổi KSV thực hành quyền công tác, kiểm sát xét xử tại phiên tòa với các trường hợp bị thay đổi theo điểm a, b Khoản 1 Điều 52 BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, đối với các trường hợp này lại không quy định trường hợp KSV được điều động công tác, bị ốm đau… mà không thể tham gia phiên tòa được. Như vậy, trong trường hợp KSV được điều động công tác, bị ốm đau… thì phải thực hiện việc thay đổi KSV tiến hành tố tụng tại phiên tòa như thế nào theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự, mẫu tố tụng được áp dụng để thực hiện việc thay đổi này như thế nào.
7. Trường hợp Chánh án là người trực tiếp thụ lý giải quyết vụ án:
Đối với trường hợp Chánh án tòa án nhân dân huyện trực tiếp giải quyết,  xét xử vụ án hình sự thì có ban hành Quyết định phân công giải quyết,  xét xử vụ án hình sự hay không, nếu có thì ai là người phân công và văn bản quy phạm pháp luật nào quy định nội dung này cần có hướng dẫn để thống nhất thực hiện.
8. Đối với quy định về việc Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ:
Theo đó, Tòa án có thể tiến hành các hoạt động xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt động theo quy định từ Khoản 1 đến Khoản 6 Điều 252 BLTTHS năm 2015 như vậy trường hợp trong quá trình chuẩn bị xét xử hay tại phiên tòa phát sinh những tình tiết mới mà quá trình điều tra, truy tố chưa thu thập thì trường hợp này Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ trước rồi sau đó mới xem xét việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Tại địa phương có trường hợp, khi có tình tiết mới mà quá trình điều tra, truy tố chưa thu thập, làm rõ thì Tòa án đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà không thực hiện việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định tại Điều 252 BLTTHS. Như vậy, cần có quy định phối hợp làm rõ về việc Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ để cụ thể hóa quy định tại Điều 252 BLTTHS không để phải trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
9. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”
Hiện nay, hệ thống biểu mẫu trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự theo Luật Tố tụng hình sự 2015 không có biểu mẫu Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú trong giai đoạn xét xử và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng không quy định cụ thể về việc hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú như thế nào.
Đối với bị cáo bị Tòa án tuyên hình phạt tù thì thời điểm xác định bị cáo thi hành án tù từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, trường hợp này sau khi kết thúc phiên tòa Tòa án ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo là 45 ngày để đảm bảo thi hành án, sau khi án có hiệu lực pháp luật (30 ngày) Tòa án ra quyết định thi hành án, bị cáo đi chấp hành án ngay, trong khi bị cáo đi chấp hành án phạt tù thì Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo vẫn còn có hiệu lực vì chưa bị hủy bỏ.
Do vậy, đề nghị phải có hướng dẫn cụ thể đối với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này.
10. Việc thu thập các chứng cứ là dữ liệu điện tử:
Hiện nay các tội phạm trên không gian mạng diễn ra thường xuyên, tuy nhiên việc thu thập các chứng cứ điện tử như thế nào để đảm bảo về tố tụng chưa được hướng dẫn cụ thể. Gây lúng túng trong quá trình xử lý ở các cơ quan tiến hành tố tụng địa phương. Điển hình như các vụ án sử dụng các trang Facebook để lừa đảo chiếm đoạt tài sản; máy chủ và công ty Facebook nằm ở nước ngoài nên không thể cung cấp thông tin cho CQĐT Việt Nam theo yêu cầu,  các chứng cứ CQĐT thu thập chỉ là các tài liệu sao in từ trang mạng xuống (vì đây là tài liệu in không có dấu đỏ) thì có được xem là chứng cứ hay không; để chứng minh được họ có phải là người trực tiếp tạo ra trang Face book giả để lừa đảo người khác hay không thì buộc họ phải thực hiện hành vi khởi tạo, đăng tin như đã làm trước đó, thì một số đối tượng không thực hiện thao tác nên rất khó khăn trong quá trình chứng minh hành vi phạm tội.
11. Nhận thức về việc thực hiện các thủ tục trợ giúp pháp lý:
Khi bị can, bị cáo đã từ chối việc được trợ giúp pháp lý và đã bãi nại trách nhiệm dân sự thì có cần xác minh tại địa phương thông tin về diện được trợ giúp pháp lý hay không. Đối với người có quyền nghĩa vụ liên quan (ví dụ người bị thương trong vụ án tai nạn giao thông có người chết) họ đã nhận tiền bồi thường, từ chối giám định thì có cần làm thủ tục (xác minh, mẫu biên bản) trợ giúp pháp lý cho họ không?
12. Trong việc ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử:
Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày”. Nhưng có vụ án Tòa ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử ấn định 29 ngày mới xét xử vụ án mà không nêu trở ngại khách quan. VKS kiến nghị, sau đó Tòa có văn bản phúc đáp lý do bị cáo bị giam ngoài tỉnh nên công tác điều chuyển mất nhiều thời gian và đây là trở ngại khách quan. Như vậy Tòa án có vi phạm quy định nêu trên không, việc điều chuyển có phải là trở ngại khách quan không.
13. Khoản 6 Điều 353 BLHS năm 2015,sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định "người có chức vụ quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này".
Hiện nay có 2 quan điểm khi vận dụng điều khoản này. Quan điểm thứ nhất cho rằng chủ thể của tội tham ô được hiểu rộng hơn so với quy định trước đây, bao gồm cả cá nhân là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty có yếu tố nước  ngoài...(không phải là doanh nghiệp Nhà nước) đều là chủ thể của loại tội phạm này. Do đó, bất kỳ người nào được giao cho trách nhiệm quản lý tài sản trong các công ty, doanh nghiệp không kể là doanh nghiệp Nhà nước hay ngoài Nhà nước thì đều là chủ thể bị xem xét truy cứu TNHS về tội này. Quan điểm thứ 2 thì cho rằng không phải người nào có trách nhiệm quản lý tài sản ở các công ty ngoài Nhà nước như cty TNHH (Doanh nghiệp tư nhân), cty cổ phần, cty có yếu tố nước ngoài thì đều là chủ thể của tội tham ô, vì Điều 95 Luật phòng chống tham nhũng năm 2018 có quy định "Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện" như vậy nếu hiểu chủ thể là người có chức vụ quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước thì các chủ thể đó phải là chủ thể được quy định tại Điều 95 của Luật PCTN. Do vậy thực tiễn áp dụng quy định này để xử lý tội phạm tham ô đối với người thực hiện hành vi phạm tội có chức vụ quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước nếu không thuộc chủ thể của Luật PCTN thì chỉ xem xét truy cứu TNHS về tội "Lừa đảo CĐTS", "LDTNCĐTS"... nên đây là vướng mắc của quy định pháp luật chưa được hướng dẫn cụ thể.
Ngày 23/7/2019 Vụ 14 VKSTC có Công văn số 3221/VKSTC-V14 về việc hướng dẫn áp dụng quy định tại Khoản 6 Điều 353 BLHS năm 2015, công văn ghi “Vụ sẽ tổng hợp và báo cáo Viện trưởng VKSTC có văn bản Kiến nghị tòa án tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn” nhưng đến nay vẫn chưa có nghị quyết hướng dẫn nội dung này nên các Cơ quan tố tụng cấp dưới hiện đang gặp khó khăn về nội dung này.
Trên đây là một số khó khăn vướng mắc trong quá trình THQCT-KSXX hình sự, Phòng 7 - viện KSND Quảng Ngãi tổng hợp để các đồng chí đồng nghiệp biết cùng quan tâm, trao đổi tháo gỡ.
                                                                Nguyễn Công Thành - Phòng 7, Viện KSND Quảng Ngãi
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 

Thông báo mới

Thông báo kết luận ngày 15/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về phòng, chống dịch Covid-19
Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi: Kế hoạch sơ tuyển vào Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội năm 2020
Thông báo Ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi về việc nâng cao trách nhiệm trong soạn thảo văn bản
Thông báo Ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi tại Hội nghị trực tuyến giao ban tháng 5/2020
Kết nối trực tuyến Hội nghị tổng kết 05 năm thi hành Luật Phá sản năm 2014, Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 và Hội nghị tập huấn pháp luật về đất đai trong ngành Kiểm sát nhân dân
Thông báo ngày 06/5/2020 về ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi
Thông báo ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi về việc thực hiện quy trình về tiếp nhận, xử lý văn bản và thông tin báo cáo
Công văn ngày 23/4/2020 của UBND tỉnh về thực hiện các biện pháp phù hợp trong phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh
Công văn triển khai tham dự Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng) lần thứ V-Năm 2020 trong ngành KSND
Thông báo ngày 17/4/2020 về ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi về việc phòng, chống dịch Covid - 19
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên