16:03 ICT Thứ bảy, 19/09/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 37

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 35


Hôm nayHôm nay : 5376

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 165323

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2077666

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nguyên nhân – điều kiện phát sinh và những khó khăn vướng mắc

Thứ bảy - 25/04/2015 15:07
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành tựu quan trọng mà nước ta đã đạt được trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, thì mặt trái của nền kinh thị trường mang lại, đó là tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.

Trong số này, thì tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến và ngày càng tăng về số lượng vụ án cũng như hậu quả do loại tội phạm này gây ra. Tuy nhiên, việc xét xử loại tội phạm này trong thực tiễn vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định tội danh, quyết định hình phạt do đó phần nào đã ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong phạm vi bài viết này, xin được nêu ra một số dạng hành vi phổ biến của hai loại tội phạm trên, nguyên nhân, điều kiện phát sinh và những khó khăn, vướng mắc trong trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn xét xử qua đó đề xuất một số ý kiến để góp phần hoàn thiện hơn quy định về tội phạm này.
Tính từ 03 năm trở lại đây (2012 – 2014) trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ngãi, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã khởi tố 90 vụ - 129 bị can, truy tố 88 vụ - 127 bị can, xét xử: 87 vụ - 125 bị cáo; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khởi tố 16 vụ - 18 bị can, truy tố 15 vụ - 17 bị can, xét xử 15 vụ - 17 bị cáo, gây thiệt hại lên đến 51.743.180.490 đồng (năm mươi mốt tỷ bảy trăm bốn mươi ba triệu một trăm tám mươi nghìn bốn trăm chín mươi đồng) và một số tài sản khác.
          1. Các dạng hành vi phổ biến của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
          Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
- Dùng thủ đoạn gian dối như: đưa thông tin giả bằng lời nói dối, giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ quyền hạn, giả danh các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội để thông qua việc ký kết hợp đồng...để chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin đó là thật mà giao tài sản cho người phạm tội.
          - Dùng một tài sản thế chấp để vay mượn nhiều lần, hồ sơ thế chấp tài sản được dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để làm giả làm cho người bị hại và cơ quan Nhà nước, Cơ quan pháp luật khó phát hiện.
- Lợi dụng nhu cầu việc làm, sự nhẹ dạ của người dân, người phạm tội giả danh là nhân viên công ty, có quen biết với nhiều cán bộ cao cấp để lừa đảo tiền của người dân trong việc xin việc làm.
          - Thực hiện các giao dịch thuê tài sản sau đó đem đi cầm cố, thế chấp, hoặc bán. Người phạm tội có ý thức chiếm đoạt ngay từ đầu.
          Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
          Hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.         
          2. Nguyên nhân và điều kiện phát sinh các tội phạm nêu trên.
- Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các giao dịch về dân sự, kinh doanh thương mại tăng lên về số lượng, đa dạng và phức tạp về tính chất vụ việc nên pháp luật điều chỉnh các giao dịch trong xã hội còn nhiều thiếu sót. Chính những sơ hở trong việc quy định, điều chỉnh của các văn bản pháp luật và lỏng lẻo trong quy trình quản lý của nhà nước nên phần nào đã tạo điều kiện phát sinh những loại tội phạm trên.
          - Do nhu cầu vốn để làm ăn, phát triển kinh tế, nhưng kinh doanh không hiệu quả dẫn đến thua lỗ kéo dài không có khả năng trả nợ, người phạm tội nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản để sử dụng với mục đích cá nhân.
- Do nhu cầu tìm việc làm trong xã hội rất lớn từ đó các đối tượng đã lợi dụng nhu cầu này của người dân để đưa ra thông tin giả là có khả năng xin việc làm để nhận tiền rồi chiếm đoạt.
- Do nhu cầu mua, bán đất, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất tăng cao nhưng đa phần người dân thiếu sự hiểu biết về pháp luật, ngại đến các cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục trên vì mất rất nhiều thời gian, nên người dân đã nhờ đến những người môi giới (cò) đất để nhanh chóng có được kết quả như mong muốn. Từ đó, các đối tượng này đã lợi dụng lòng tin của người dân để chiếm đoạt tiền tài sản (tiền) của họ.
- Do một số đối tượng lười lao động nhưng lại muốn có nhiều tiền để phục vụ mục đích tiêu xài cá nhân nên dẫn đến việc coi thường pháp luật và thực hiện hành vi phạm tội.
- Do người dân mất cảnh giác, dễ tin vào thủ đoạn gian dối của các đối tượng, công tác quản lý tài sản của chủ sở hữu còn buông lỏng, ham lãi suất cao và có nhiều sơ hở đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
          - Do người bị hại không tuân thủ pháp luật khi thực hiện các hợp đồng dân sự nên người phạm tội lợi dụng sự sơ hở, thiếu sót trong việc giao kết hợp đồng để tìm cách chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
         3. Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm và cho vay lãi nặng.
3.1. Về hành vi khách quan của tội phạm
Trong các yếu tố cấu thành cơ bản của của tội phạm “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a, b Khoản 1 Điều 140 BLHS về hành vi khách quan, có những tình tiết khó chứng minh, cụ thể như sau:
Điểm a khoản 1 Điều 140 BLHS quy định: “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó”. Tuy nhiên, trường hợp “Bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn. Trong thực tiễn, một người sau khi vay, mượn, thuê tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn, nhưng để chứng minh họ có bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản hay không là vấn đề còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, nên đã phát sinh nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng, chỉ cần xác định được tình tiết một người nào đó sau khi nhận được tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn, không trả tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp là đủ cơ sở kết luận người đó phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, không phụ thuộc vào lý do bỏ trốn của họ là nhằm mục đích gì. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh, không phải tất cả mọi trường hợp bỏ trốn đều có ý thức chiếm đoạt tài sản.
Tại điểm b khoản 1 Điều 140 BLHS quy định: “vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”. Như vậy, chỉ các trường hợp người nhận được tài sản đã sử dụng tài sản đó vào “mục đích bất hợp pháp”, như: buôn lậu, mua bán ma túy, đánh bạc,… dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, mới bị coi là phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Còn đối với các trường hợp vay, mượn tiền với số lượng lớn, sau đó sử dụng vào việc ăn chơi, tiêu xài hoang phí dẫn đến không khả năng trả nợ, lại không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ, vì việc dùng tiền vay, mượn để ăn chơi, tiêu xài… tuy có trái với đạo đức xã hội nhưng lại không được xem là việc làm “bất hợp pháp”. Thực tế hiện nay, các vụ vỡ nợ, hụi lên đến hàng tỷ đồng xảy ra phổ biến ở nhiều địa phương đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nhưng không thể xử lý các trường hợp này bằng pháp luật hình sự được.
3.2. Về tình tiết định tội
Về mức tối thiểu giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong cấu thành cơ bản: Theo quy định tại Điều 139 BLHS, mức tối thiểu về giá trị tài sản bị chiếm đoạt để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là từ 2 triệu đồng trở lên, nhưng tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” lại quy định từ 4 triệu đồng trở lên. Do định lượng cấu thành cơ bản giữa hai tội không bằng nhau, nên có nhiều trường hợp người phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác (có giá trị dưới 4 triệu đồng và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự như: gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử phạt hành chính; đã bị kết án chưa được xóa án tích), nhưng cơ quan điều tra không thể khởi tố ngay được, mà phải tốn kém nhiều thời gian để chứng minh ý thức của người chiếm đoạt tài sản có trước hay sau khi đã nhận tài sản. Trong thực tế, người lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao giờ cũng nại rằng: sau khi nhận được tài sản mới nảy sinh ý thức chiếm đoạt, để trốn tránh trách nhiệm hình sự; bởi vì, tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 4 triệu đồng, chưa đủ định lượng để khởi tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dẫn đến bỏ lọt tội phạm, vì không chứng minh được ý thức chiếm đoạt có trước khi nhận tài sản.
Về tình tiết “Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản” trong Chương các tội xâm phạm về sở hữu nói chung, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng, cũng nảy sinh bất hợp lý, chưa mang tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Theo khoản 1 Điều 140 BLHS quy định: Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu có giá trị dưới mức định lượng tối thiểu, thì phải có thêm dấu hiệu “Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích, mà còn vi phạm” mới cấu thành tội phạm, nên trong thực tế người thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới mức tối thiểu, tuy chưa có lần nào bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng lại có nhiều tiền án về các tội đặc biệt nghiêm trọng khác, như: giết người, hiếp dâm trẻ em, mua bán trái phép chất ma túy,… lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, người có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới mức định lượng tối thiểu và chỉ có một tiền án về tội chiếm đoạt (mặc dù thuộc loại ít nghiêm trọng) vẫn bị coi là tội phạm.
3.3. Về tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất chuyên nghiệp”.
          Nếu so với tội “Trộm cắp tài sản”, thì tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” có tính chất nguy hiểm cho xã hội không kém và hậu quả, thiệt hại xảy ra thường lớn hơn, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp “có tính chất chuyên nghiệp” lại thuộc cấu thành tình tiết định khung tăng nặng, theo điểm b khoản 2 Điều 138 BLHS. Ngược lại, phạm tội “có tính chất chuyên nghiệp” trong tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chỉ bị xử lý theo khoản 1 Điều 140 BLHS.
3.4. Những vướng mắc trong hướng dẫn thực hiện.
Ngày 25/12/2001 Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 02/2001/TTLT-TA-VKS-BCA-BTP hướng dẫn thực hiện các quy định tại chương XIV về các tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, một số quy định của Thông tư vẫn còn mang tính chung chung và khó thực hiện, cụ thể:
Tại mục 5 phần II Thông tư hướng dẫn: “Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (gây hậu quả nghiêm trong; đã bị xử phạt hành chính; đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích…), đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu:
a) Các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.
b) Việc thực hiện các hành vi xâm phạm sở hữu… lấy tài sản do việc xâm phạm sở hữu mà có làm nguồn sống chính”.
Chính quy định này, mà thực tiễn xét xử ở một số cơ quan, người tiến hành tố tụng, chưa nhận thức đúng và áp dụng thống nhất các điều kiện trên, cụ thể: thế nào là “Hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian”.
Mặt khác, việc chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội có dấu hiệu “Lấy tài sản do việc xâm phạm sở hữu mà có làm nguồn sống chính” là rất khó khăn, vì họ thường có nghề nghiệp (tuy không ổn định) và không người phạm tội nào lại thừa nhận họ sống từ việc phạm tội.
Tương tự như trên, tại mục 5.1 Nghị quyết 01 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: Chỉ áp dụng tình tiết “Phạm tội có tình tiết chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
a. Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;
b. Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
Thực tế, tại một số Tòa án địa phương, chỉ cần điều kiện thứ nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng tình tiết này.
Trong một số trường hợp cụ thể thì như thế nào là: “Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”, vẫn chưa được hướng dẫn, nên quá trình áp dụng trong thực tiễn chưa thống nhất nhau.
Ngoài ra còn một số khó khăn khác sau:
- Đây thường là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, quy mô đặc biệt lớn, phức tạp, dễ xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm; đối tượng phạm tội có thủ đoạn tinh vi nên việc điều tra thường gặp nhiều khó khăn. Trong các vụ án này khối lượng công việc phải giám định, định giá lớn, phức tạp nên thời gian giám định phải kéo dài, nhiều vụ phải phải giám định bổ sung hoặc giám định lại, ảnh hưởng đến tiến độ điều tra.
- Thực tế trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự còn có những lập luận và nhận định nhầm lẫn giữa các hành vi trong nhóm tội xâm phạm sở hữu … dẫn đến sự không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật để định tội danh, phải tổ chức họp liên ngành, làm kéo dài thời gian giải quyết đối với vụ án.
-  Đặc trưng cơ bản để xác định hành vi chiếm đoạt cũng như định tội danh, đó là: Người thực hiện hành vi phạm tội có ý định chiếm đoạt từ trước và người phạm tội có hành vi gian dối trước hau sau khi nhận được tài sản. Do vậy, vấn đề khó khăn cần đặt ra là phải xác định và chứng minh được ý thức chiếm đoạt phát sinh từ khi nào, động cơ, mục đích của việc phạm tội thì mới có cơ sở để phân biệt được đâu là tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay tội phạm “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, để không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội.
- Trong các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì chứng cứ để đánh giá thường chủ yếu là lời khai của những người tham gia tố tụng (bị hại, nhân chứng, bị can …), hầu hết không có chứng cứ vật chất. Do vậy, quá trình giải quyết vụ án những người này vì lý do nào đó thay đổi lời khai thì ảnh hưởng ngay đến bản chất vụ án.
- Đối tượng từ nơi xa đến gây án tại địa phương sau đó bỏ trốn, gây khó khăn trong việc xác minh, giải quyết.
- Người dân nhận thức pháp luật còn kém. Khi biết bị lừa thì hầu hết không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà liên hệ thoả thuận với đối tượng, mong đối tượng trả tiền lại. Khi đối tượng bỏ trốn mới đến trình báo.
- Người bị hại là ngư dân, thường xuyên trên biển nên việc triệu tập lấy lời khai rất khó khăn, gây chậm trễ trong công tác giải quyết án.
          4. Những đề xuất, kiến nghị
Từ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết đối với những vụ án lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm và cho vay lãi nặng như phân tích nêu trên, nếu xem xét ở góc độ mức hình phạt thì không bảo đảm tính công bằng, không đạt được mục đích của hình phạt. Do đó, để bảo đảm tính hợp lý, công bằng, nghiêm minh trong chính quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử, đề xuất sửa đổi Điều 140 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, cụ thể như sau:
+ Bổ sung thêm vào khoản 1 Điều 140 BLHS hiện hành nói riêng, cũng như các tội xâm phạm sở hữu nói chung tình tiết định tội “Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” theo hướng: “1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
+ Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất chuyên nghiệp vào khoản 2 Điều 140 BLHS.
Mặt khác, BLHS quy định tình tiết định khung tăng nặng về giá trị tài sản bị chiếm đoạt và khung hình phạt ở các khoản 2,3,4 của tội “Lừa đảo” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là giống nhau. Do đó, để đảm bảo tính đồng nhất và tính công bằng trong quyết định hình phạt, Bộ Luật hình sự cũng cần được nghiên cứu, sửa đổi theo hướng định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong cấu thành cơ bản của hai tội là bằng nhau, trên cơ sở phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
- Các đơn vị nghiệp vụ cần xác định đúng tầm quan trọng của việc giải quyết các vụ án lớn về kinh tế để có sự tập trung chỉ đạo. Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, thực hiện tốt việc phê chuẩn các quyết định tố tụng một cách chặt chẽ để hạn chế oan, sai và cũng giúp việc điều tra sau đó được thuận lợi, dễ dàng hơn. Cần có quy định ràng buộc trách nhiệm của Kiểm sát viên phải bám sát tiến độ điều tra, cập nhật nghiên cứu tài liệu điều tra để kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra sát, đúng trong quá trình điều tra, bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng pháp luật.
- Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm toán để nắm bắt nguồn tin, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội xảy ra tại địa phương, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
          - Cần sửa đổi bổ sung vào điều luật này một số mặt khách quan đã và đang xảy ra trong đời sống xã hội nhưng thực chất đây là thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản như: Cố ý tìm mọi cách để không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết, sử dụng tài sản không đúng theo cam kết ban đầu, biển thủ tài sản này sang tài sản khác nhưng không trực tiếp đứng tên chủ sở hữu…
          - Tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân về các thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi phạm tội của loại tội phạm này để nhân dân đề cao cảnh giác trước những thủ đoạn phạm tội, tránh bị chiếm đoạt tài sản.                                                            
          * “Bài viết có sử dụng tài liệu tham khảo của các đồng nghiệp

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Ngọc Thúy – Phòng 1 Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên