16:01 ICT Thứ bảy, 19/09/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 36

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 34


Hôm nayHôm nay : 5364

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 165311

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2077654

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Rút kinh nghiệm về vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm bị hủy

Thứ hai - 27/04/2015 10:52
Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Thông báo rút kinh nghiệm số 751/TB-VKS-P12 ngày 24/4/2015 đối với vụ án Kinh doanh thương mại “Tranh chấp vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng” giữa: nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam, bị đơn Nguyễn Văn U, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H. Do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tuyên hủy bản án sơ thẩm số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của TAND huyện Đ, giao hồ sơ cho TAND huyện Đ xét xử lại. Cụ thể như sau:

1. Nội dung vụ án và quá trình giải quyết:
         
Theo đơn khởi kiện ngày 24/9//2012, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Ngày 21/12/2010, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Quảng Ngãi cho vợ chồng Nguyễn Văn U và Nguyễn Thị H vay theo Hợp đồng tín dụng số 639/2010/NHNT.DP, số tiền 440.000.000đ; mục đích vay làm kinh tế phụ gia đình; thời hạn vay tối đa 12 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên; lãi suất vay trong hạn 16,6%/năm và được điều chỉnh mỗi tháng một lần; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; trả lãi vay 06 tháng một lần. Ngày 25/5/2011 bên cho vay và bên vay sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng số 639/2010/HĐBS để sửa đổi bổ sung mục 5.2 của Hợp đồng số 639/2010/NHNT.DP về trả lãi vay “bên vay trả lãi vay vào cuối kỳ hạn vay cùng với kỳ hạn trả nợ gốc”.
         
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng (QSD) đất số 301/HĐTC.DP ngày 12/5/2008, vợ chồng ông Nguyễn Văn U, bà Nguyễn Thị H thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 11, theo giấy chứng nhận QSD đất số 04297 QSDD/16/QĐ-UB(H) cấp ngày 15/01/2003. Hợp đồng thế chấp QSD đất được UBND xã chứng thực ngày 13/5/2008 và được Văn phòng đăng ký QSD đất Phòng tài nguyên và Môi trường huyện xác nhận ngày 19/5/2008.
         
Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Quảng Ngãi đã giải ngân toàn bộ số tiền theo Hợp đồng tín dụng vào ngày 21/12/2011, với số tiền 440.000.000 đồng. Do vi phạm về thời hạn trả nợ theo hợp đồng, nên Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Quảng Ngãi khởi kiện ông Nguyễn Văn U, bà Nguyễn Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/3/2013 nợ gốc 440.000.000đ, nợ lãi trong hạn 156.735.335đ, nợ lãi quá hạn 39.193.611đ; đồng thời xử lý tài sản thế chấp QSD đất theo Hợp đồng 301/HĐTC.DP ngày 12/8/2008 để thu hồi nợ.
         
Theo biên bản tự khai ngày 20/02/2013, biên bản hòa giải ngày 25/3/2013, ông Nguyễn Văn U và bà Nguyễn Thị H trình bày: Vào năm 2007 vợ chồng ông có vay của Ngân hàng Ngoại thương số tiền 290.000.000đ để làm vốn kinh doanh, khi vay có thế chấp QSD đất, năm 2009 đến hạn trả nợ nhưng do cần vốn làm ăn vợ chồng lập hợp đồng vay lại, gộp cả gốc lẫn lãi là 360.000.000đồng và tiếp tục thế chấp QSD đất; đến năm 2010 là hạn trả nợ nhưng do làm ăn thua lỗ không có tiền trả gốc và lãi nên vợ chồng thỏa thuận với Ngân hàng chuyển số nợ gốc và lãi thành khoản vay mới và lập hợp đồng vay với số tiền là 440.000.000đồng, thế chấp QSD đất theo hợp đồng thế chấp năm 2008. Thời hạn trả nợ là tháng 12/2011, do điều kiện kinh tế gặp khó khăn vì làm ăn thua lỗ, các con đi học tốn kém không có tiền trả nợ. Nay Ngân hàng đòi nợ vợ chồng ông chấp nhận số tiền nợ gốc 440.000.000đồng và nợ lãi từ khi vay đến nay. Do chưa có khả năng trả nợ được, ông U xin trả nợ từ năm 2015 và trả dần đồng thời đề nghị Ngân hàng miễn tiền lãi. Nếu Ngân hàng yêu cầu bán tài sản thế chấp để trả nợ thì vợ chồng ông đồng ý nhưng hiện tại không có chổ ở nào khác.
         
Bản án số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của TAND huyện xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam-chi nhánh Quảng Ngãi, buộc vợ chồng ông U, bà H phải thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số: 639/2010/NHNT.DP ngày 21/12/2010, tính đến ngày 26/3/2013: Nợ gốc: 440.000.000đ, nợ lãi trong hạn: 156.735.335đ, nợ  lãi quá hạn: 39.193.611đ.       
           
Trường hợp vợ chồng ông U, bà H không thanh toán khoản nợ và lãi nêu trên, thì Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam-chi nhánh Quảng Ngãi có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho vay trên là QSD đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 223, tờ bản đồ số 11 theo giấy chứng nhận QSD đất số 04297 QSDD/16/QĐ-UB(H) cấp ngày 15/01/2003, theo Hợp đồng thế chấp số 301/HĐTC.DP ngày 12/5/2008 được UBND xã chứng thực ngày 13/5/2008 và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Phòng tài nguyên và Môi trường huyện xác nhận ngày 19/5/2008.
           
Vợ chồng Nguyễn Văn U và Nguyễn Thị H được miễn 50% tiền án phí; còn phải nộp án phí KDTM-ST là 14.718.578đ .Ngoài ra bản án còn tuyên hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam-chi nhánh Quảng Ngãi tiền tạm ứng án phí  và quyền kháng cáo của các đương sự có mặt và vắng mặt.
           
Ngày 24/5/2014 ông U và bà H có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm: sửa một phần bản án sơ thẩm, theo đó giảm số tiền lãi và nợ quá hạn 39.193.611đ; giảm nợ số tiền 440.000.000đ đến hết tháng 6/2014 (là thời điểm cuối cùng trong việc bồi thường, giải tỏa thu hồi đất để thực hiện Dự án nâng cấp mở rộng quôc lộ 1A) tạo điều kiện cho chúng tôi có tiền trả nợ. Việc kháng cáo trên không được Tòa án huyện chấp nhận và có Thông báo 273/2014/TB-TA ngày 10/6/2014 về việc trả đơn kháng cáo, vì kháng cáo quá hạn. Ngày 25/6/2014 ông Nguyễn Văn U có đơn khiếu nại Thông báo trên. Ngày 05/8/2014 Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi có Quyết định 103/2014/QĐ-GQKN hủy Thông báo 273/2014/TB-TA ngày 10/6/2014 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện nhận đơn kháng cáo đề ngày 24.5.2014 của ông U, bà H. Ngày 25/12/2014 ông U kháng cáo yêu cầu: Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố Hợp đồng thế chấp số 301/HĐTC ngày 12/5/2008 vô hiệu và cải sửa bản án sơ thẩm số 01/2003/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện;  bà H người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo, yêu cầu: hủy toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại số 01/2003/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện vì vi phạm thủ tục tố tụng.
         
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện KSND tỉnh xét thấy bản án sơ thẩm số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của TAND huyện có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án chưa được làm rõ. Căn cứ khoản 3 Điều 275, Điều 277 Bộ LTTDS đề nghị hủy Bản án số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của TAND huyện và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
         
2. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
 * Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị H kháng cáo ngày 25/12/2014, Tòa án sơ thẩm chấp nhận cho bà H kháng cáo quá hạn là không đúng theo Điều 245 Bộ LTTDS. Vì bà H là người có mặt trực tiếp tham gia phiên tòa, bà H chỉ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.  
         
Cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng mà phải xác định tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị H là bị đơn trong vụ án. Vì theo hồ sơ vay vốn thể hiện việc vay vốn và thế chấp tài sản là do hai vợ chồng cùng ký vào hồ sơ vay, nên bà H phải có trách nhiệm cùng với ông U trong việc trả nợ cho Ngân hàng với số tiền nợ gốc: 440.000.000đ và nợ lãi.     
 
Đơn khởi kiện của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Quảng Ngãi yêu cầu xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng đất theo Hợp đồng 301/HĐTC.DP ngày12/08/2008 để thu hồi nợ. Nhưng tại Bản án số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện lại xem xét Hợp đồng 301/HĐTC.DP  ngày 12/5/2008 là không đúng với yêu cầu của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Quảng Ngãi. Đơn khởi kiện của Ngân hàng xác định bà H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng, việc sai sót này lẽ ra sau khi thụ lý Tòa án phải phát hiện và yêu cầu Ngân hàng bổ sung đơn khởi kiện cho phù hợp.
          
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp là QSD đất được Nhà nước cấp cho hộ ông Nguyễn Văn U, theo quy định của pháp luật khi xử lý tài sản chung của hộ có giá trị lớn thì phải có ý kiến của người từ đủ 15 tuổi trở lên. Theo sổ hộ khẩu của ông U, bà H thì có 02 con trên 15 tuổi là Nguyễn Công L, sinh năm 1991, Nguyễn Thị Lý H, sinh năm 1993. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã làm việc và xác định L và H không có đóng góp công sức để tạo lập tài sản thế chấp; L và H không có yêu cầu. Nhưng theo quy định của pháp luật khi thụ lý vụ án có liên quan đến tài sản thế chấp là QSD đất cấp cho hộ thì Tòa án phải đưa Nguyễn Công L, Nguyễn Thị Lý H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để việc giải quyết vụ án được chính xác. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa L và H vào tham gia tố tụng là vi phạm khoản 4 Điều 56 Bộ LTTDS.
 
Tòa án cấp sơ thẩm không có Quyết định phân công Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử vụ án; quyết định phân công Thư ký Tòa án để tiến hành tố tụng đối với vụ án là vi phạm điểm b khoản1 Điều 40 Bộ LTTDS. Thẩm phán giải quyết vụ án lại ban hành Thông báo số 185/2013 thay đổi Hội thẩm nhân dân là không đúng về hình thức và thẩm quyền ban hành, vì thẩm quyền ban hành quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân trước khi mở phiên tòa phải do Chánh án hoặc phó chánh án Tòa quyết định theo quy định tại điển c khoản 1 Điều 40 và khoản 1 Điều 51Bộ luật tố tụng dân sự.
 
Về án phí: Bản án tuyên buộc vợ chồng  ông Nguyễn Văn U, bà Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí và được miễn 50% tiền án phí, còn phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 14.718.578đ. Việc Tòa án cho ông U được miễn 50% tiền án phí trong khi ông U không có đơn xin miễn giảm án phí (chỉ có bà Nguyễn Thị H ký đơn xin miễn tiền án phí, được UBND xã xác nhận gia đình bà H có hoàn cảnh khó khăn) là vi phạm Điều14 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 và Điều 5 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 Hướng dẫn một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án. Về hình thức đơn xin miễn giảm án phí của bà H làm không đúng quy định của pháp luật nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn chấp nhận là sai sót.  
 
*Về nội dung:                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      
Nội dung vụ án chưa được Tòa án cấp sơ thẩm nhận định làm rõ trong bản án như: Theo lời khai của vợ chồng ông U, bà H và biên bản hòa giải ngày 25/02/2013 thì số nợ 440.000.000đ và lãi 195.928.946đ là do gộp cả gốc và lãi của các hợp đồng năm 2007 và năm 2009 đã vay khi đến hạn không có khả năng trả gốc và lãi. Ngân hàng khai vợ chồng ông U  bà H nợ số tiền gốc và lãi trên là theo Hợp đồng 639/2010NHNT.DP ngày 21/12/2010. Việc làm rõ vấn đề này là cần thiết để xác định Hợp đồng 639/2010NHNT.DP ngày 21/12/2010 ký kết  giữa ông U, bà H với Ngân hàng có tự nguyện không? Ngân hàng phát hiện việc cho vay làm ăn thua lỗ, không hiệu quả của những hợp đồng trước đó nhưng lại tiếp tục cho vay? Về phía Ngân hàng có phải do việc không trả được nợ gốc và lãi của các hợp đồng năm 2007 và năm 2009 nên nhập vào Hợp đồng 639/2010/NHNT.DP ngày 21/12/2010, việc gộp này có phải nhằm mục đích vay đảo nợ không?
 
Theo giấy chứng nhận QSD đất số 04297/QSDĐ/16/QĐ-UB ngày 15/01/2005 thì đất cấp cho hộ gia đình ông U. Gia đình của ông U, bà H có tổng cộng 5 người. Hợp đồng thế chấp QSD đất được ký kết vào ngày 12/5/2008, và biên bản xác định lại giá trị tài sản bảo đảm ngày 21/12/2010 thì tại thời điểm này hai người con của ông U là Nguyễn Công L, Nguyễn Thị Lý H, đều đủ 15 tuổi, nhưng trong hợp đồng không có chữ ký của họ là vi phạm khoản 2 Điều 109 BLDS: “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý”. Xét thấy hợp đồng thế chấp QSD đất không thực hiện đúng quy định của pháp luật,  nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ.
 
Vụ án này ở cấp sơ thẩm có Viện kiểm sát tham gia, Kiểm sát viên đã phát hiện Tòa án cấp sơ thẩm không đưa 02 con của ông U, bà H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm tố tụng nhưng không kháng nghị phúc thẩm; các vi phạm còn lại nêu trên chưa phát hiện. Vì vậy, để nâng cao chất lượng kiểm sát giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại đề nghị Kiểm sát viên được phân công trong quá trình giải quyết vụ án phải nghiên cứu kỹ thủ tục tố tụng và nội dung phát hiện vi phạm kịp thời kháng nghị nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng pháp luật./.

Tác giả bài viết: Phạm Thị Kim Phượng – Phòng 12 Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên