08:46 EDT Thứ hai, 28/09/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 22

Máy chủ tìm kiếm : 7

Khách viếng thăm : 15


Hôm nayHôm nay : 7173

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 258716

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2171059

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Rút kinh nghiệm qua vụ án Hành chính sơ thẩm bị hủy

Chủ nhật - 26/10/2014 23:45
Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Thông báo rút kinh nghiệm số 1373/TB-VKS-P12 ngày 22/10/2014 đối với vụ án Hành chính “Khiếu kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ”, giữa người khởi kiên: Ông Phạm Thanh H với người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện.

Nội dung vụ án và quá trình giải quyết như sau:
Theo đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung của ông Phạm Thanh H ngày 23/10/2012 và ngày 08/3/2013 và lời trình bày của ông:

Vào ngày 20/10/2012, thông qua Văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất  huyện cung cấp ông Phạm Thanh H biết được Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và tài sản khác gắn liền với đất phát hành số: BK 636164, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: "CH" 00233 do UBND huyện cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phạm Đăng T, bà Nguyễn Thị Th.

Ông Phạm Thanh H  yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BK 636164. Lý do vì: Quyết định này xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông Phạm Thanh H, bởi vì ông H là con và là thành viên trong hộ gia đình ông Phạm M, chưa được sự đồng ý của ông H nhưng Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Đăng T, bà Nguyễn Thị Th. 
 
Người bị kiện trình bày: Ngày 19/4/2012, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Đăng T. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận có: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành số S 725346, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số "CH" 03126 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 22/3/2001 cho hộ ông Cao Hùng V và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Cao Hùng V và bà Phạm Thị H với bên nhận chuyển nhượng là ông Phạm Thanh T, bà Nguyễn Thị Th. Hợp đồng chuyển nhượng được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chứng thực ngày 18/4/2012.

Sau khi thẩm tra hồ sơ, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trình Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phát hành số BK 636164. Về trình tự, thủ tục, điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng qui định Điều 106, 127 Luật đất đai năm 2003, hướng dẫn tại Điều 23 Thông tư 17/2009/BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Điều 41 Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND ngày 18/6/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.  Uỷ ban nhân dân huyện xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 636164 cho ông T, bà Th là hoàn toàn đúng.

Ông Phạm Đăng T, bà Nguyễn Thị Th  trình bày: Thửa đất số 1509, tờ bản đồ số 02, diện tích 142,5m2 tại thôn Long Vĩnh, xã Bình Long vợ chồng ông bà đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 636164, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: "CH" 00233 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 29/5/2012. Nguồn gốc thửa đất trên là do ông bà nhận chuyển nhượng của ông Cao Hùng V và bà Phạm Thị H, hợp đồng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân xã chứng thực số 26 ngày 18/4/2012. Việc chuyển nhượng đất của ông bà đúng pháp luật và đã được UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, ông bà không đồng ý toàn bộ nội dung khiếu kiện của ông H.
Ông Cao Hùng V, bà Phạm Thị H trình bày: Nguyên vợ chồng ông bà đứng tên thửa đất số 3235, tờ bản đồ số 2, diện tích 160m2 xã Bình Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  số S 725346, vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số "CH" 03126 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 22/3/2001. Ngày 06/4/2012, vợ chồng ông bà được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện cho đăng ký biến động điều chỉnh trang 4 với diện tích giảm xuống còn 142,5m2 thuộc thửa số 1509, tờ bản đồ số 02 tại thôn Long Vĩnh, xã Bình Long. Ngày 18/4/2012, vợ chồng ông Cao Hùng V chuyển nhượng thửa đất trên cho vợ chồng ông T, bà Th.
 
Bản án hành chính sơ thẩm số  02/2014/HCST ngày 14/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện áp dụng:  Điểm e, khoản 2 Điều 6, Điều 48, khoản 4 Điều 49, khoản 2 Điều 52, khoản 1 Điều 105, khoản 1 Điều 106, khoản 1 Điều 126 và khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003.  Điều 23, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 29, Điều 49, Điều 54, điểm a, khoản 2 Điều 163, Điều 164, Điều 165 và Điều 176 Luật tố tụng hành chính. Khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự. Điều 3, 4, 5, 9, 10, 19, 23 Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 và Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ tư pháp và Bộ tài nguyên môi trường, tuyên xử: Bác toàn bộ nội dung đơn khởi kiện của ông Phạm Thanh H.
            
Ngày 17/02/2014, ông  Phạm Thanh H có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm: Hủy bản án sơ thẩm số 02/2014/HCST ngày 14/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện để xét xử lại theo qui định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông và các thành viên trong hộ ông.
 Ngày 12/3/2014, Viện KSND tỉnh có Quyết định Kháng nghị số 20/KN-VKS-HC yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử vụ án theo hướng huỷ Bản án sơ thẩm số 02/2014/HC-ST ngày 14/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện   và đình chỉ việc giải quyết vụ án.
           
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện KSND tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Quyết định Kháng nghị của VKS tỉnh và chấp nhận một phần kháng cáo của ông Phạm Thanh H tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do vi phạm tố tụng hành chính vì người khởi kiện không bị xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, do đó người khởi kiện không có quyền khởi kiện và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
   
Vấn đề cần rút kinh nghiệm thông qua việc giải quyết vụ án:

       
Về tố tụng:
 Tòa án cấp sơ thẩm không xác định được người khởi kiện có bị xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay không (nghĩa là có quyền khởi kiện hay không), từ đó thụ lý giải quyết vụ án không đúng qui định của Luật Tố tụng hành chính.
    
Về nội dung:  Việc UBND huyện cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Cao Hùng V và bà H là trên cơ sở giấy chuyển nhượng ngày 04/9/1999 có chữ ký của ông M, bà Nh và các con của ông bà.
         
Sổ hộ khẩu hộ ông Phạm M (trong hộ có 3 thành viên là ông M, ông H và bà Nh) mà ông H cung cấp cho Tòa án được cấp ngày 15/12/2004, trong khi Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Phạm M với ông Cao Hùng V ngày 07/6/2000 và được cấp giấy CNQSDĐ ngày 22/3/2001.  Tại  thời điểm chuyển nhượng  Luật đất đai năm 1993 không qui định  các thành viên trong gia đình phải ký vào Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông M với ông V.        
             
Căn cứ để  UBND huyện cấp giấy chứng nhận  QSDĐ trên không phải từ hợp đồng chuyển nhượng  QSDĐ giữa ông Phạm M với ông Phạm Đăng T, bà Nguyễn Thị Th mà từ hợp đồng chuyển nhượng  QSDĐ giữa ông Cao Hùng V, bà Phạm Thị H với bên nhận chuyển nhượng là ông T, bà Th. Ông Phạm Thanh H là thành viên trong hộ gia đình ông Phạm M, chứ không phải là thành viên hộ gia đình ông Cao Hùng V, do đó ông không bị xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình bởi hợp đồng chuyển nhượng này. Vì thế, ông Phạm Thanh H không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện hủy giấy chứng nhận quyền sử đất này (theo qui định tại khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011).  
 
Mặt khác, ông Phạm Thanh H cũng không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định 193/QĐ-UB ngày 22/3/2001 của UBND huyện cấp giấy chứng  QSDĐ cho hộ ông Cao Hùng V (trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng  QSDĐ giữa cha ông là Phạm M với ông Cao Hùng V).

Do đó, Bản án sơ thẩm  02/2014/HC-ST ngày 14/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện xét xử  là không đúng pháp luật tố tụng hành chính. Căn cứ khoản 1 Điều 103 LTTHC; khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 qui định thì ông Phạm Thanh H không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận QSDĐ số: BK 636164, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: "CH" 00233 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phạm Đăng T, bà Nguyễn Thị Th, mà cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 109, điểm đ khoản 1 Điều 120 LTTHC đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, trả lại đơn khởi kiện.
Vì vậy, khi nghiên cứu vụ án hành chính khiếu kiện yêu cầu “Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”  liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng đất đai cần nghiên cứu kỹ thời điểm chuyển nhượng thuộc Luật đất đai năm 1993 hay năm 2003 điều chỉnh và các văn bản pháp luật có liên quan; đồng thời cần nghiên cứu kỹ Luật Khiếu nại  và Luật Tố tụng hành chính để xác định người khởi kiện có quyền khởi kiện vụ án hành chính hay không.
           
Trên đây là những vấn đề cần rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án Hành chính.

Tác giả bài viết: Bích Thủy-Phòng 12 Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên