01:07 EDT Thứ sáu, 14/08/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 26

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 24


Hôm nayHôm nay : 4053

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 129782

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1747269

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Những việc cần thống nhất trong áp dụng pháp luật TTDS,HC

Thứ hai - 13/07/2020 22:06
Qua tổng hợp những bất cấp, khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng Luật tố tụng dân sự, hành chính của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Nhận thấy, phần lớn những bất cập, khó khăn vướng mắc mà VKSND cấp huyện đưa ra phần lớn đã được hướng dẫn, tuy nhiên các đơn vị vẫn cho rằng đó là khó khăn nên vẫn nêu ra, điều đó cho thấy sự nghiên cứu vận dụng đôi lúc vẫn chưa được triệt để nên Viện KSND tỉnh đã tổng hợp những nội dung cần rút kinh nghiệm trong việc áp dụng Luật tố tụng dân sự, hành chính như sau:

Trường hợp thứ nhất: Tòa gửi thông báo trả lại đơn khởi kiện không kèm theo đơn khởi kiện và các tài liệu mà người khởi kiện cung cấp gây khó khăn cho công tác kiểm sát Tại khoản 1 Điều 124 Luật TTHC đã quy định, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Luật không quy định trách nhiệm Tòa án gửi hồ sơ trả lại đơn khởi kiện cho Viện kiểm sát. Tuy nhiên tại khoản 2 điểm c Điều 20 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 (gọi tắt Thông tư liên tịch số 03) quy định tại: Yêu cầu Tòa án cho sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ trong trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo Điều 21 Thông tư liên tịch này.Và tại Điều 21 TTLT qui định:
+ Trong trường hợp Viện kiểm sát cần xem xét kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện hoặc sau khi nhận thông báo mở phiên họp giải quyết khiếu nại trả lại đơn khởi kiện thì Viện kiểm sát gửi văn bản yêu cầu Tòa án cho sao chụp một số hoặc toàn bộ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ.
+  Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án giao cho Viện kiểm sát văn bản cần sao chụp theo yêu cầu tại trụ sở Tòa án. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được văn vản sao chụp, Viện kiểm sát trả lại văn bản cho Tòa án.
Tại tiểu mục 2.3 mục 2 Phần I tại Văn bản 6183/VKSTC-V14 ngày 25/12/2019 v/v giải đáp vướng mắc về pháp luật dân sự, hành chính hướng dẫn thực hiện Điều 21 Thông tư 03, ngoài ra do thời gian rất ngắn nên KSV có thể trao đổi trước với Tòa án khi mang văn bản yêu cầu đến Tòa, Tòa có thể giao tài liệu cho KSV chụp ngay. Trường hợp Tòa án không thực hiện đúng quy định về thời hạn nêu trên thì KSV kiến nghị với Tòa án.
Trường hợp thứ hai: Xử lý đối với trường hợp người khởi kiện gửi đơn qua cổng thông tin điện tử theo khoản 3 Điều 119 Luật TTHC. Do đó, không đảm bảo nguyên tắc xác định chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật TTHC (TBồng).
Điều 19 Nghị quyết số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật TTDS, Luật tố tụng hành chính về gửi nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ, tống đạt thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử.
Tại điều 19 qui định: Người khởi kiện, người tham gia tố tụng đã gửi tài liệu, chứng cứ qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án phải nộp bản chính hoặc bản sao hợp pháp tài liệu, chứng cứ đó chậm nhất là tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Đối với các tài liệu, chứng cứ mà người tham gia tố tụng gửi cho Tòa án bằng phương tiện điện tử sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại thì thời hạn giao nộp bản chính và bản sao hợp pháp tài liệu, chứng cứ đó được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng.
 Đối với tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 96 Luật tố tụng hành chính; chứng cứ là vật chứng; tài liệu nghe được, nhìn được hoặc những tài liệu, chứng cứ khác mà không thể định dạng dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết này thì Tòa án, người khởi kiện, người tham gia tố tụng không được gửi bằng phương thức điện tử mà phải giao nộp bằng phương thức khác theo quy định của pháp luật tố tụng.
Trường hợp thứ ba: Luật TTHC không quy định việc Viện kiểm sát tham gia tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại. Do đó, phiên họp diễn ra đúng hay sai, thành phần có phù hợp hay không, Viện kiểm sát không kiểm sát ngay từ đầu (Bình Sơn).
Tại khoản 26 Công văn số 70/VKSTC-V14 ngày 05/11/2018 của Viện kiểm sát tối cao v/v giải đáp vướng mắc trong áp dụng quy định của BLTTDS năm 2015 và nghiệp vụ kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự trong ngành KSND quy định Viện kiểm sát không tham gia phiên họp này. Nội dung, diễn biến, trình tự, thủ tục phiên họp được thể hiện tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Các biên bản, tài liệu, chứng cứ của phiên họp này đều đưa vào hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát trình tự, thủ tục và nội dung của phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải thông qua nghiên cứu các biên bản, tài liệu trên hồ sơ vụ án.
Như vậy, trong tố tụng hành chính thực hiện như hướng dẫn này.
Trường hợp thứ tư: Luật TTHC quy định người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó tham gia quá trình tố tụng nhưng đa số có văn bản xin được xét xử vắng mặt gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án; trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện phải được sự đồng ý của người bị kiện nhưng người bị kiện lại xin vắng mặt (Nghĩa Hành, Đức Phổ).
Thứ nhất, cấp phó tham gia quá trình tố tụng nhưng đa số có văn bản xin được xét xử vắng mặt gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án.
Những khó khăn, tồn tại này được giải đáp tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II  Văn bản 6183/VKSTC-V14 ngày 25/12/2019 v/v giải đáp vướng mắc về pháp luật dân sự, hành chính.
Thứ hai, trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện phải được sự đồng ý của người bị kiện nhưng người bị kiện lại xin vắng mặt
 Trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện trong trường hợp không có yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (điểm b khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính) thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án mà không cần có sự đồng ý của người bị kiện.
Trường hợp người bị kiện hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đồng ý rút yêu cầu (điểm e khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính) thì Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án cần có sự đồng ý của người bị kiện, quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập rút yêu cầu. Trường hợp người khởi kiện không đồng ý rút đơn khởi kiện thì thực hiện như hướng dẫn tại mục 3 phần III Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính.
Trường hợp thứ năm: Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tại khoản 8 Điều 32 Luật TTHC năm 2015 quy định: “Trường hợp cần thiết, Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên giải quyết vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện…”, quy định như vậy là chưa cụ thể, rõ ràng về những loại việc nào thuộc trường hợp Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết dễ dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy nghi trong hệ thống Tòa án (Trà Bồng).
Tại tiểu mục 2.1 mục 2 Phần II Văn bản 6183/VKSTC-V14 ngày 25/12/2019 v/v giải đáp vướng mắc về pháp luật dân sự, hành chính hướng dẫn như sau: Từ khi luật tố tụng hành chính năm 2015 được ban hành chưa có hướng dẫn về quy định tại khoản 8 Điều 32 nêu trên, tuy nhiên có thể tham khảo Điều 4 Nghị quyết số 02/2011 của HĐTP TANDTC ngày 29/7/2011 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật tố tụng hành chính năm 2010 về các trường hợp Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện quy định tại điểm g khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính năm 2010 như sau:
1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của UBND cấp huyện, chủ tịch UBND cấp huyện liên quan đến nhiều đối tượng phức tạp.
2. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện mà các Thẩm phán của Tòa án cấp huyện đó đều thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi.
3. Vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài.
Trong đó, trường hợp nêu tại khoản 1 đã thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh theo Luật tố tụng năm 2015. Các trường hợp khoản 2 hoặc khoản 3 có thể tiếp tục được áp dụng.
Trường hợp thứ sáu: Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu Theo quy định tại khoản 6 Điều 84 Luật TTHC. Trên thực tế Tòa án chỉ trả lời phiến diện, không có văn bản trả lời vì Luật TTHC chỉ quy định quyền yêu cầu của Viện kiểm sát mà không có điều, khoản quy định trách nhiệm của Tòa án phải thực hiện yêu cầu
Tại Điều 22 Thông tư liên tịch số 03/2016 quy định rõ trách nhiệm của Tòa án đối với yêu cầu của Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ.
Trường hợp thứ bảy: Cần hiểu như thế nào cho đúng trường hợp “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai” được quy định tại Điều 157 Luật TTHC năm 2015 và Điều 227 Bộ luật TTDS năm 2015 (Đức Phổ).
Đã có án lệ số 12/2017, ban hành theo Quyết định 299/QĐ-CA ngày 18/12/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về xác định đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt.
Để thống nhất trong nhận thức VKS tỉnh đã thông báo rút kinh nghiệm đến các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện yêu cầu tập trung nghiên cứu, rút kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án KDTM, HC./.
PHẠM THỊ KIM LIÊN

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên