07:06 EDT Thứ hai, 28/09/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 27

Máy chủ tìm kiếm : 7

Khách viếng thăm : 20


Hôm nayHôm nay : 6652

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 258195

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2170538

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Một số vấn đề cần trao đổi về thực trạng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố quá hạn luật định

Thứ năm - 26/03/2015 21:13
Theo Thông báo số 521/TB-VKS-VP ngày 16/3/2015 của VKSND tỉnh Quảng Ngãi về tình hình tội phạm, công tác kiểm sát tháng 02 năm 2015, trong toàn tỉnh hiện còn tồn 54 tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố - gọi tắc là tin tội phạm (trong đó cấp tỉnh 10 tin).

Đặc biệt tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi có tin tội phạm thụ lý từ năm 2012 đến nay chưa giải quyết xong như tin do bà Nguyễn Thị A tố giác ông Nguyễn Q chiếm đoạt 1,2 tỷ đồng của bà A. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng số liệu trên là chưa chính xác, thực tế tin tội phạm quá hạn còn cao hơn nhiều. Cụ thể theo Báo cáo số 186/BC-VKS ngày 18/11/2014 của Viện KSND huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi thì Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Hà đã thụ lý 27 tố giác về tội phạm trộm xe mô tô trên địa bàn nhưng Cơ quan CSĐT và Viện kiểm sát huyện Sơn Hà đã thống nhất chuyển 27 tin tội phạm này thành "án truy xét” và xóa sổ thụ lý nên số tin tội phạm tồn quá hạn giảm xuống đáng kể. Thực trạng này đã tồn tại nhiều năm và cho đến nay các cơ quan hữu quan tại tỉnh Quảng Ngãi vẫn chưa có giải pháp khắc phục.
          Để tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng tin tội phạm tồn quá hạn thì phải tìm ra được nguyên nhân của tình trạng quá hạn. Chúng tôi cho rằng cần phải bắt đầu từ quy định của luật mà trước hết là các khái niệm (tin báo tội phạm là gì; tố giác tội phạm là gì; kiến nghị khởi tố là gì; dấu hiệu tội phạm là gì; thế nào là người phạm tội; định tội danh là gì) và mối quan hệ giữa các khái niệm này.
          Có thể hiểu định tội danh là hoạt động thực tiễn của người có thẩm quyền tiến hành đối chiếu một hành vi khách quan cụ thể có phù hợp với tội danh nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự hay không.
Tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của ng­ười tố giác.
Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận đư­ợc tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.”.
Tại khoản 1 Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà n­ước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.” mà chưa nêu khái niệm thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
          Trong quá trình thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự, thấy được thực tiễn khó khăn, vướng mắt này, ngày 02/8/2013, các cơ quan gồm Bộ Công an, Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 (gọi tắc là Thông tư số 06/2013) hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tại Điều 3 của Thông tư này quy định "Trong Thông tư liên tịch này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
2. Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
3. Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự.".
          Như vậy theo định nghĩa này của Thông tư số 06/2013, khi xuất hiện tin báo, tố giác về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố thì đã có dấu hiệu tội phạm và chủ thể xác định có dấu hiệu tội phạm là chủ thể cung cấp tin tội phạm chứ không phải cơ quan có trách nhiệm giải quyết tin tội phạm. Trong khi đó, tại Điều 100 và Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự quy định chủ thể xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm là cơ quan Nhà nước có chức năng giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Cụ thể, Điều 100 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định Chỉ đ­ược khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:
1. Tố giác của công dân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;
3. Tin báo trên các ph­ương tiện thông tin đại chúng;
4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực l­ượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đ­ược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
5. Ng­ười phạm tội tự thú.”.
Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự quy định "1. Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Thủ tr­ưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lư­ợng Cảnh sát biển và Thủ tr­ưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân đ­ược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án trong những trường hợp quy định tại Điều 111 của Bộ luật này.
Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong tr­ường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của các cơ quan quy định tại khoản này và trong tr­ường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án.
Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện đ­ược tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.".
Nếu căn cứ vào Điều 100 và 104 Bộ luật tố tụng hình sự và theo định nghĩa về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tại Thông tư số 06/2013 thì khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin tội phạm có đủ điều kiện để khởi tố vụ án hình sự mà không cần phải xác minh vì đã có dấu hiệu tội phạm và không có trường hợp phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Để cụ thể hóa Bộ luật tố tụng hình sự và Thông tư số 06/2013 áp dụng thống nhất trong ngành kiểm sát nhân dân, ngày 17/10/2014 Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế kèm theo Quyết định số 422/QĐ-VKSTC về công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (gọi tắc là Quy chế 422) cũng định nghĩa tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như Thông tư số 06/2013 (tại các khoản 6, 7, 8 Điều 1 của Quy chế 422).
Tại khoản 1 Điều 13 của Quy chế 422 có quy định "1. Kiểm sát viên chủ động đề ra yêu cầu xác minh bằng văn bản về những vấn đề cần chứng minh ngay từ đầu và trong quá trình giải quyết.
Khi đề ra yêu cầu xác minh, Kiểm sát viên phải nêu rõ những nội dung cần xác minh để kiểm tra tính xác thực của nguồn tin; thu thập, cũng cố chứng cứ để làm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, được quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự.".
          Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự quy định "Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
3. Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra."
Với quy định này của Quy chế 422 có thể hiểu ngoài việc xác minh để kiểm tra tính xác thực của nguồn tin, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố còn phải thu thập, cũng cố chứng cứ làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự. Trong khi đó trên thực tế chưa tồn tại vụ án hình sự vì chưa có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Chúng tôi cho rằng việc xác minh dấu hiệu tội phạm để giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố khác với điều tra vụ án hình sự (chứng cứ để giải quyết tin báo là dấu hiệu tội phạm còn việc điều tra vụ án hình sự là làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, định tội danh và tất cả các tình tiết có liên quan gồm mục đích, động cơ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đặc điểm về nhân thân, tính chất, mức độ thiệt hại, yêu cầu của người bị hại về trách nhiệm dân sự, có phạm tội nào khác hoặc có đồng phạm không để giải quyết toàn diện một vụ án). Cơ quan điều tra chỉ thực hiện Điều 63 của Bộ luật tố tụng hình sự  khi đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Hơn nữa nếu trong giai đoạn giải quyết tin tội phạm mà Kiểm sát viên đã đề ra yêu cầu xác minh tất cả những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự thì đến giai đoạn điều tra vụ án, Kiểm sát viên sẽ không thực hiện được việc đề ra yêu cầu điều tra theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng hình sự vì sẽ trùng lặp. Những công việc này thuộc giai đoạn điều tra và kiểm sát điều tra vụ án hình sự chứ không phải trong giai đoạn giải quyết tin tội phạm.
Vậy thì dấu hiệu tội phạm được hiểu như thế nào? Đến nay vẫn chưa có văn bản luật nào định nghĩa "dấu hiệu tội phạm" là gì, trong khi đó đây là nội dung chính của quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên xuất bản năm 1999 tại trang 525, từ dấu hiệu có nghĩa là làm hiệu cho biết điều gì, hiện tượng tỏ rõ điều gì đó.
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự quy định "1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.".
Như vậy có thể hiểu dấu hiệu tội phạm là biểu hiện để nhận biết nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự nêu trên. Chúng ta có thể hiểu nội hàm của khái niệm dấu hiệu tội phạm gồm có ba nội dung là:
- Có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự;
- Do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý;
- Xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Khi xác định đủ ba nội dung nêu trên tức là đã có đủ 04 yếu tố cấu thành tội phạm (Mặc khách quan, chủ thể, mặc chủ quan, khách thể), khi đó mới tiến hành khởi tố vụ án hình sự. Với điều kiện này thì khi khởi tố vụ án hình sự cũng đồng thời khởi tố bị can. Nghĩa là khái niệm dấu hiệu tội phạm đã bao hàm luôn khái niệm người phạm tội.
Tuy nhiên, tại Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về việc khởi tố bị can, chỉ khi có đầy đủ chứng cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì mới khởi tố bị can. Điều này cho thấy căn cứ để khởi tố bị can là khi xác định đầy đủ chứng cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, còn căn cứ để quyết định khởi tố vụ án hình sự chỉ là dấu hiệu tội phạm. Về nội hàm của khái niệm dấu hiệu tội phạm và nội hàm của khái niệm người phạm tội được Bộ luật hình sự quy định trùng lắp với nhau. Chính sự trùng lắp về khái niệm này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết tin tội phạm.
Để có cơ sở chứng minh, chúng tôi lấy ví dụ thực tiễn tại địa phương tỉnh Quảng Ngãi để đối chiếu với quy định của luật.
Ví dụ 1: Vụ Lê Minh H bị đâm 09 nhát, chết tại bến Tam Thương thuộc phường Lê Hồng Phong, Tp Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vào đêm 24/8/2014, được phát hiện vào sáng ngày 25/8/2014. Sau khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, tử thi, tuy chưa xác định được người đâm ông H nhưng ngày 27/8/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội giết người, cướp tài sản, nghĩa là đã xác định có dấu hiệu của tội phạm giết người và tội phạm cướp tài sản. Mãi đến tháng 12/2014 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mới phát hiện và bắt đối tượng Nguyễn Văn Đ về hành vi giết người tại địa phương. Quá trình xác minh, Điểm khai nhận ngoài vụ giết người tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Điểm còn giết 03 người khác, trong đó có Lê Minh H bị Đ đâm 09 nhát tại Quảng Ngãi để cướp tài sản của ông H. Đến ngày 08/01/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Đ. Ngoài ra có nhiều vụ án khác cũng được khởi tố khi chưa xác định được người thực hiện hành vi phạm tội.
Ví dụ 02: 27 tố giác về tội trộm cắp tài sản (xe mô tô) xảy ra tại địa bàn huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Hà đã xác định có dấu hiệu tội phạm xảy ra nhưng lại không khởi tố vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hà cho rằng chưa xác định được người thực hiện hành vi trộm xe nên chưa khởi tố vụ án mà thành lập chuyên án để xác minh xác định người thực hiện hành vi phạm tội.
Hai trường hợp trên đều có đặc điểm chung là đã xác định có dấu hiệu tội phạm xảy ra nhưng việc xử lý của cơ quan chức năng đối với mỗi trường hợp là khác nhau.
Chúng tôi đồng tình với cách làm của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi vì phù hợp với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Cần hiểu dấu hiệu tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam và khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì tiến hành khởi tố vụ án hình sự, còn khi có đủ chứng cứ xác định một người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi phạm tội thì khởi tố bị can đối với họ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Hà xóa thụ lý 27 tố giác về tội phạm trộm cắp xe mô tô là vi phạm luật trong việc giải quyết tin tội phạm.
Hiện nay đã có dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng thời gian giải quyết tin tội phạm từ 02 tháng lên 04 tháng (tính mức tối đa), nếu được thông qua nội dung này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ quan giải quyết nhưng với quy định của luật (khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự) và hướng dẫn tại Thông tư số 06/2013 thì cũng không khắc phục được tình trạng giải quyết tin tội phạm quá hạn vì cần phải xác định được người phạm tội mới quyết định giải quyết tin tội phạm (khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự).
Về góc độ chủ quan của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin tội phạm có quan điểm: Nếu khởi tố vụ án hình sự mà không xác định được người phạm tội thì sẽ phải đình chỉ điều tra, làm cho tỷ lệ án đình chỉ điều tra tăng, là cơ sở để các cơ quan, ngành cấp trên, cùng cấp đánh giá chất lượng điều tra chưa tốt nên không khởi tố vụ án hình sự khi chưa xác định được người thực hiện hành vi phạm tội đủ điều kiện để khởi tố bị can. Ngoài ra, trong thực tiễn cũng xảy ra trường hợp để giảm số lượng tin tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện  không thụ lý giải quyết mà chuyển tin tội phạm cho Công an cấp xã giải quyết. Việc làm này là vi phạm luật về thẩm quyền giải quyết tin tội phạm và có thể dẫn đến hậu quả khó khăn trong việc thu thập chứng cứ về sau. Hệ lụy của việc giải quyết tin tội phạm thuộc thẩm quyền không đúng luật dẫn tới việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, gây khó khăn cho việc xác minh, điều tra sau này, làm cho công tác điều tra phá án không theo sát với diễn biến của tình hình tội phạm, giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, ảnh hưởng đến công tác thống kê và dự báo tình hình tội phạm. Đây cũng là tình trạng chung của một số địa phương khác chứ không riêng gì của tỉnh Quảng Ngãi.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, để khắc phục tình trạng tin tội phạm tồn quá hạn luật định tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và một số địa phương khác,  chúng tôi kiến kế trước hết các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin tội phạm cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh cần tổ chức hội thảo để bàn bạc, thống nhất về nhận thức và phân biệt khái niệm dấu hiệu tội phạm với khái niệm người phạm tội cũng như các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về giải quyết tin tội phạm.
Chúng tôi nhận thức: Dấu hiệu tội phạm được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam; còn người phạm tội được hiểu là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các khách thể nêu trên.
Để giải quyết tin tội phạm kịp thời, không để quá hạn luật định, chúng tôi cho rằng Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ tư pháp, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cần xem xét sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 06/2013, nhất là cần xem xét sửa đổi các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Chúng tôi đề xuất sửa đổi định nghĩa tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo hướng sau:
- Tố giác tội phạm là việc công dân có danh tính và địa chỉ rõ ràng báo với cơ quan có thẩm quyền về một sự kiện pháp lý mà mình cho là có sự việc phạm tội xảy ra hoặc vi phạm pháp luật nghiêm trọng;
- Tin báo về tội phạm là việc cơ quan, tổ chức báo cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi của một người mà mình cho là phạm tội hoặc thông tin do báo đài đăng tải về sự kiện pháp lý có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng;
- Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan Nhà nước có văn bản kiến nghị về hành vi của một người mà mình cho là phạm tội và yêu cầu giải quyết theo luật định.
Về lâu dài, cần xem xét sửa đổi khoản 1 Điều 8 của Bộ luật hình sự theo hướng tách khái niệm tội phạm, khái niệm về người phạm tội riêng ra để rõ nghĩa và dễ áp dụng, có như vậy mới khắc phục được tình trạng giải quyết tin tội phạm quá hạn luật định như hiện nay./.

Tác giả bài viết: Phan Minh Nhựt - Phòng 1 Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi

Tổng số điểm của bài viết là: 8 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên