15:51 ICT Thứ bảy, 19/09/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 28

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 26


Hôm nayHôm nay : 5291

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 165238

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2077581

Tin tức » Trao đổi pháp luật »

Quang cao giua trang

Bản án hình sự sơ thẩm bị hủy vì vi phạm pháp luật nghiêm trọng

Thứ sáu - 13/02/2015 09:54
Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự: Phạm Ngọc T, bị tòa cấp sơ thẩm xét xử về tội: “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi nhận thấy cần thông báo để các Viện kiểm sát huyện, thành phố nghiên cứu rút kinh nghiệm.

Nội dung vụ án theo Bản án sơ thẩm:
         
Vào lúc 20 giờ ngày 14/02/2011, Phạm Ngọc T - sn 1989 ( ở huyện BT, Quảng Ngãi) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76V7-4517, chở sau Phạm Ngọc H - sn 1994 ( em ruột T), từ hướng tây xuống đông, trên trục đường QL24. Khi đến địa phận thuộc  xã P Ph, huyện Đ P thì tông vào bà Phan Thị K- sn1936, đang dắt xe đạp đi sát lề đường phía nam theo hướng từ tây xuống ( cùng chiều với xe của T), làm cho bà K ngã xuống đường chấn thương, còn T điều khiển xe chạy một đoạn, lúc này anh Nguyễn T nhìn thấy dùng xe máy đuổi theo thì phát hiện T quay xe lại vị trí gây tai nạn. Bà Phan Thị K được đưa đi cấp cứu, đến ngày 15/02/2011 thì chết tại bệnh viện.Theo kết luận giám định pháp y số 12/GĐPY ngày 02/3/2011 của Phòng giám định pháp y bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi kết luận nguyên nhân chết của bà Phan Thị K: chấn thương sọ não kín gây máu tụ nội sọ.
         
Quá trình giải quyết vụ án:

* Cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 17/02/2012 của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội:  “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ”, theo quy định tại khoản 1 điều 202 Bộ luật hình sự.
* Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2014/HSST ngày 11/9/2014 của Tòa án tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” . Áp dụng  khoản 1 điều 202; điểm b khoản 1, 2 điều 46 BLHS xử phạt Phạm Ngọc T  01 ( một ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 27/7/2011 đến ngày 26/12/2011.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và án phí hình sự sơ thẩm.
Ngày 22/9/2014, Phạm Ngọc T có đơn kháng cáo kêu oan, bị cáo cho rằng: người điều khiển xe gây ra tai nạn làm chết bà K là Phạm Ngọc H em ruột của bị cáo chứ không phải do bị cáo gây ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 03/02/2015, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận và  hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Đây là vụ án mà cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng trong việc đánh giá chứng cứ, cấp sơ thẩm chỉ dựa vào chứng cứ là những lời khai của người làm chứng gián tiếp để kết tội bị cáo; cấp sơ thẩm chỉ tập trung vào tìm chứng cứ buộc tội đối với bị cáo mà chưa xem xét, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan tất cả các chứng cứ gỡ tội đối với bị cáo.
Tại hồ sơ vụ án thể hiện:
         
- Từ khi vụ tai nạn xảy ra đến lúc khởi tố điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo  T đều một mực kêu oan:  bị cáo không trực tiếp điều khiển xe 76V7-4517 chở H gây ra tai nạn, mà do em ruột của bị cáo ( tức H)  trực tiếp điều khiển xe chở bị cáo gây tai nạn làm bà K chết. Chính H ( em ruột của bị cáo) , từ khi vụ tai nạn xảy ra đến giai đoạn điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa  phúc thẩm cũng thừa nhận:  mình là người trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 76V7-4517 chở anh ruột là T ngồi sau từ nhà ở huyện B T xuống  huyện M Đ, khi đến đoạn đường thuộc xã P Ph thì va vào người bà  K đang dắt xe đạp đi cùng chiều bên lề đường phía nam làm bà K chết. 

- Bà Võ Thị Th ( mẹ của Phạm Ngọc T và Phạm Ngọc H) cũng khẳng định: từ nhà đi chính  H là người điều khiển xe 76V7-4517 chở anh là T;  bà Đặng Thị S ( ở xã B C, huyện B T), bà S là người bán xăng cho H cũng xác định: chính H là người điều khiển xe đến đổ xăng, sau khi đổ xăng cũng chính H điều khiển xe chở T đi. Ông Nguyễn Phi C người đầu tiên lại ôm bà K sau khi tai nạn xảy ra, cũng xác định chính  H là người điều khiển xe.

- Còn ông Nguyễn Th khai: khi nghe cái rầm chạy ra thì thấy xe mô tô của hai thanh niên chạy xuống, Th đuổi theo thấy người mập, không đeo kính cận ( tức là Phạm Ngọc T) là người điều khiển xe. Khi thì ông Th khai đuổi theo 10m, lúc thì 15m, lúc thì đuổi theo 30 m thì T quay xe lại. Lời khai của Th chưa khẳng định chính xác còn mâu thuẩn. Bà Nguyễn Thị Ng, Trần Thị Thu L: những người này không trực tiếp nhìn thấy ai là người điều khiển, mà sau khi tai nạn xảy ra chỉ nghe  nói lại. Bà L thì nghe chồng bà là Nguyễn Th nói lại là T điều khiển xe gây tai nạn. Ông Đặng Phong V sau khi tai nạn xảy ra mới đến và nghe nói lại là T điều khiển xe gây tai nạn.

- Trong khi đó đại diện cho người bị hại: ông Nguyễn Tấn D, Nguyễn Tấn S, Nguyễn Tấn H ( con trai bà K) thì làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt và bãi nại cho  Phạm Ngọc H, những người này cũng xác định: chính cháu H mới là người điều khiển gây ra tai nạn làm chết mẹ của họ.
Lời khai của bị cáo mâu thuẩn với lời khai người làm chứng; lời khai giữa những người làm chứng cũng mâu thuẩn với nhau, nhưng chưa được tiến hành đối chất để làm rõ.
 
Cấp sơ thẩm dùng lời khai của ông Nguyễn Th, bà Trần Thị Thu L, bà Huỳnh Thị T và ông Đặng  Phong V làm chứng cứ ( chứng cứ gián tiếp) để kết tội bị cáo Tuân là vi phạm nghiêm trọng  Điều 10 và Điều 63 Bộ luật TTHS. Mặc khác đây là vụ án có rất nhiều mâu thuẩn vì vậy việc điều tra, xét hỏi công khai tại phiên tòa là rất cần thiết. Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm toàn bộ những người làm chứng mà cấp sơ thẩm căn cứ để buộc tội bị cáo đều vắng mặt nhưng vẫn đưa bị cáo ra xét xử là vi phạm nghiêm trọng Điều 184 BLTTHS.

Đây là vụ án cần rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát truy tố, xét xử hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm, kiên quyết không làm oan người vô tội.

Tác giả bài viết: Phùng Thanh Liễu - Phòng 3, Viện KSND tỉnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên