00:12 ICT Thứ bảy, 06/03/2021
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 60

Máy chủ tìm kiếm : 5

Khách viếng thăm : 55


Hôm nayHôm nay : 154

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 33411

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3149035

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Quang cao giua trang

Vướng mắc từ thực tiễn áp dụng xử lý Tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Thứ tư - 20/01/2021 14:05
Hiện nay trong thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau khi vận dụng các quy định của pháp luật trong từng trường hợp, vụ án cụ thể. Tôi xin được nêu một số dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đồng thời nêu ra một vụ án và quan điểm xử lý để các đồng chí cùng nghiên cứu, góp ý:
          * Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm:
a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
b) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a) Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
+ Hành vi khách quan trong cấu thành cơ bản của tội phạm này là: Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có”.
           + Giải đáp của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao: Trường hợp người thực hiện hành vỉ phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình  sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì “người tìêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không?
Theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì: “(1) Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC- TANDTC ngày 30-11-2011 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì: “1. Tài sản do người khác phạm tội mà có ” là tài sán do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vỉ phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hổi lộ...) hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: xe máy có được từ việc dùng tiền tham ô để mua); 2. "Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có ” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn nêu trên thỉ mặt chủ quan của tội phạm này chỉ bắt buộc người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có, mà không buộc người tiêu thụ, chứa chấp phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa. Do vậy, trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đù tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhưng có đủ chứng cứ chứng minh được ý thức chủ quan của người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ biết rõ các tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ là do người khác phạm tội mà có thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Ví dụ: Ngày 01/01/2020 Nguyễn Văn A có hành vi trộm cắp xe mô tô của Nguyễn Văn B, giá trị chiếc xe này theo định giá là 5.000.000 đồng, tính đến ngày phạm tội A mới  15 tuổi. sau khi trộm cắp được xe mô tô thì A đem bán xe này cho Nguyễn Văn C, C biết rõ tài sản này do trộm cắp có được nhưng vẫn mua.
Vì vậy theo hướng dẫn, về mặt chủ quan chỉ bắt buộc người có hành vi tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có, mà không buộc họ phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa.
+ Tôi xin nêu một số trường hợp, vụ án điển hình và quan điểm áp dụng pháp luật khác nhau khi xử lý như sau:
Nguyễn Văn A (có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự), A có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2019 đến ngày 10/01/2019 thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản. Cụ thể: Ngày 01/01/2019 trộm cắp tài sản có giá trị 03 triệu đồng; ngày 10/01/2019 trộm cắp tài sản có giá trị 1,5 triệu đồng. Sau khi trộm cắp tài sản A đem bán tài sản trộm cắp được lần thứ 2 (ngày 10/01/2019) cho Nguyễn Văn B (B biết rõ tài sản do A trộm cắp mà có).
+ Cơ quan điều tra huyện C khởi tố Nguyễn Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.
+ Đối với hành của Nguyễn Văn B có hai quan điểm áp dụng pháp luật để xử lý như sau:
- Quan điểm thứ nhất: Hành vi của Nguyễn Văn B đủ yếu tố cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vì  cấu thành cơ bản của tội phạm này quy định “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” là đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội phạm, vì cấu thành cơ bản của tội phạm này không quy định định lượng giá trị tài sản (chỉ quy định định lượng là tình tiết tăng nặng định khung điểm c Khoản 2,... Điều 323 BLHS năm 2015).
- Quan điểm thứ hai: Hành vi của Nguyễn Văn B không đủ yếu tố cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, vì mặc dù Nguyễn Văn A bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản là do A có 01 lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng. Còn nếu chỉ tính riêng lần trộm cắp thứ 2 (ngày 10/01/2019) giá trị tài sản 1,5 triệu đồng (lần bán tài sản cho B) thì giá trị tài sản chưa đủ 02 triệu đồng; việc A bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản do A chưa xóa án tích mà còn vi phạm.
+ Liên quan đến quan điểm thứ hai của vụ án trên thì: Tại điểm 8 mục I Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao (Công văn số 64/TANDTC-PC) thông báo giải đáp vướng mắc:
 Đối với trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội trước không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Vậy về mặt chủ quan chỉ bắt buộc người có hành vi tiêu thụ tài sản biết tài sản đó do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có, mà không buộc họ phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa. Vì hướng dẫn trên cho một trường hợp cụ thể, nên cũng có nhiều trường hợp xảy ra trên thực tế và vẫn còn cách hiểu khác như nhưng chưa được hướng dẫn: Nếu người thực hiện hành vi phạm tội do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì dù hành vi của họ có thỏa mãn các dấu hiệu còn lại của cấu thành tội phạm (CTTP) thì họ cũng không bị xử lý hình sự, trong trường hợp này nếu người này có hành vi trộm cắp tài sản có giá trị trên 02 triệu đồng, thì người mua tài sản này biết rõ là do trộm cắp có được thì người này phải bị xử lý hình sự về tội tiêu thụ. Nếu xử lý về mặt hình sự trong trường hợp này thì có trái với hành vi khách quan của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có”, vì quan điểm này cho rằng người có hành vi chiếm đoạt đó phải bị khởi tố về hình sự thì người tiêu thụ mới bị khởi tố hình sự về tội này.
 Cũng có quan điểm cho rằng đối với những tội phạm có quy định cấu thành vật chất (quy định cụ thể định lượng cấu thành định khung cơ bản), cũng có những tội phạm quy định cấu thành về hình thức (như tội cướp; cướp giật tài sản...). Vậy nếu A có hành vi cướp giật sợi dây chuyền vàng của B có giá trị 100.000 đồng, sau đó A đem bán sợi dây chuyền này cho C (C biết rõ do A cướp giật được). Vì vậy hành vi của A đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 171 BLHS năm 2015  và hành vi của C cũng đủ yếu tố cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS năm 2015, trường hợp này thì không cần xem xét đến giá trị tài sản nhỏ hay lớn (định lượng về tài sản).
* Một số ý kiến đồng tình với quan điểm thứ 2 cho rằng nếu người thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt nếu giá trị tài sản chưa đủ định lượng (đối với tội cấu thành vật chất), nhưng họ bị khởi tố là do các tình tiết khác (chưa xóa án tích, đã bị xử phạt hành chính ...) hoặc người phạm tội chiếm đoạt tài sản đủ định lượng đối với tội đã phạm, nhưng chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người tiêu thụ tài sản này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 323 BLHS năm 2015. Vì quan điểm này cho rằng chỉ xử lý hình sự đối với người tiêu thụ, khi người chiếm đoạt tài sản cũng phải bị xử lý khởi tố về hình sự đối với tội đã phạm hoặc phải dẫn chiếu trong mối quan hệ đối với từng tội phạm cụ thể  để xem xét xử lý hành vi đối với người tiêu thụ ( ví dụ như tiêu thụ tài sản do người khác trộm cắp (từ đủ 02 triệu trở lên), lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt ( từ đủ 04 triệu trở lên),....).
* Có quan điểm lại đồng tình với quan điểm thứ nhất của vụ án nêu trên vì Điều 323 BLHS năm 2015 quy định “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” chứ không quy định định lượng giá trị cụ thể đối với vật, tài sản,... do người khác phạm tội mà có; phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành vì đối với nhóm tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản, cấu thành cơ bản của tội phạm vừa có tội phạm cấu thành vật chất, vừa có tội phạm cấu thành hình thức (nếu có quy định định lượng giá trị tài sản thì cũng chỉ quy định ở tình tiết định khung tăng nặng) như tội cướp, cướp gật tài sản... Vì vậy nhà làm luật đã không quy định định lượng giá trị tài sản trong cấu thành định khung cơ bản của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của khoản 1 Điều 323 BLHS năm 2015. Và cho rằng quan điểm đồng tình với quan điểm thứ 2 là không có cơ sở pháp lý, bởi vì  theo quy định trong cấu thành cơ bản của tội phạm Điều 323 BLHS năm 2015, hướng dẫn tại thông tư liên ngành số 09/2011/TTLN và giải đáp pháp luật tại Công văn số 64/TANDTC-PC như đã nêu trên thì hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hoàn thành khi: Do người từ đủ 16 tuổi trở lên thực hiện hành vi phạm tội; không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có.
 Để thống nhất trong cách hiểu và áp dụng xử lý đối với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cần có sự giải đáp hướng dẫn cụ thể như: Chỉ cần chứng minh xác định được tài sản đó là tài sản do người khác phạm tội mà có; không buộc họ phải biết rõ ai là người đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để có được tài sản đó và họ đã bị xử lý hình sự hay chưa (đây là tình tiết về nhân thân: chưa đủ tuổi chịu TNHS, chưa xóa án tích... liên quan đến giá trị tài sản chiếm đoạt đủ hoặc không đủ định lượng); không quan tâm đến giá trị tài sản là bao nhiêu; hay giá trị tài sản đó phải được dẫn chiếu trong mối quan hệ đối với từng tội phạm cụ thể mà người phạm tội đã thực hiện để xử lý đối với người tiêu thụ (trộm cắp TS, lừa dảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tham ô tài sản,cướp tài sản,...).
Một số vướng mắc và quan điểm của cá nhân xin nêu ra và rất mong các đồng chí, đồng nghiệp cùng nghiên cứu, trao đổi.
                                                        

Tác giả bài viết: Nguyễn Công Thành- Phòng 7

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên