18:12 ICT Thứ ba, 02/03/2021
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 22


Hôm nayHôm nay : 6816

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 16981

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3132605

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Quang cao giua trang

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành thông báo rút kinh nghiệm vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

Chủ nhật - 31/01/2021 17:09
Vừa qua, Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tặng cho, tranh chấp về thừa kế và chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng tín dụng” bị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên. Mặc dù Tòa án cấp phúc thẩm chỉ sửa về cách tuyên, tuy nhiên cấp sơ thẩm có nhiều thiếu sót, vi phạm về thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét thấy cần thông báo để Viện KSND cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm.

  Tóm tắt nội dung vụ án:

  Nguyên đơn anh Nguyễn Công T và bà Nguyễn Thị L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
          Nguyên ông bà nội của anh (T) là cụ Nguyễn Văn Tr và cụ Nguyễn Thị Thanh Ng được ông bà lưu hạ thửa đất số 207, tờ bản đồ số 36, diện tích 2.196m2 tại thôn P, xã P, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 207-1). Cụ Tr và cụ Ng có ba người con là các ông, bà Nguyễn Văn K (Cha của anh T), Nguyễn Văn H, và Nguyễn Thị H. Năm 1975, cụ Tr chết không để lại di chúc. Năm 2000, ông K tổ chức lễ cưới với bà (L), nhưng không đăng ký kết hôn. Ông K và bà (L) có một con chung là anh (T). Tháng 3/2002, ông K bị bệnh chết, không để lại di chúc. Năm 2001, hộ cụ Ng được Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) đối với thửa 207-1. Năm 2003, cụ Ng chuyển nhượng 500m2 đất thuộc một phần thửa đất 207-1 cho ông Nguyễn A, cả gia đình đều thống nhất, có lập hợp đồng chuyển nhượng được UBND xã P chứng thực. Năm 2011, cụ Ng chết không để lại di chúc. Sau khi ông K chết, bà (L) phát hiện GCNQSDĐ thửa 207-1 bị mất.
Đầu năm 2011, bà Nguyễn Thị H chuyển nhượng một phần diện tích thuộc thửa 207-1 cho ông Tr, thì bà (L) có can ngăn, không đồng ý cho ông Tr xây dựng nhà. Tại buổi hòa giải ngày 25/9/2014, bà (L) mới biết: Năm 2009, cụ Ng làm thủ tục tách diện tích đất còn lại (đã trừ diện tích đất chuyển nhượng cho ông A) của thửa đất 207-1 thành 03 thửa, cụ thể: Thửa đất số 684, diện tích 303m2 (viết tắt là thửa 684); thửa đất số 685, diện tích 909m2 (viết tắt là thửa 685-1) và thửa đất số 207, diện tích 484m2 (viết tắt là thửa 207-2), cùng tờ bản đố số 36 tại xã P. Năm 2009, 2010 cụ Ng lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa 685-1 và thửa 207-2 cho bà H. Sau đó bà H làm thủ tục tách thửa 685-1 thành 02 thửa là thửa đất số 709, diện tích 150 m2 (viết tắt là thửa 709) và thửa đất số 685, diện tích 759 m2 (viết tắt là thửa 685-2). Năm 2016, bà H và chồng là ông Lê Thiện Nh chuyển nhượng thửa 685-2 cho bà Hồ Thị H; thửa 709 thì bà H chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hữu Tr, sau đó ông Tr chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T; còn thửa 207-2, bà H và ông Nh chuyển nhượng cho ông Võ Văn A, bà Nguyễn Thị Ánh Ng; sau đó ông A, bà Ng chuyển nhượng lại thửa 207-2 cho anh Trần Duy H, chị Phan Thị Bạch D.
Hai hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa 685-1 và 207-2 đều thể hiện chữ ký của bà (L) và ông Nguyễn Văn H, nhưng thực tế bà (L) và ông H không biết, không ký tên vào hai hợp đồng nói trên. Toàn bộ thửa đất 207-1, sau khi trừ diện tích đất cụ Ng đã chuyển nhượng cho ông A, từ khi bà (L) kết hôn với ông K và sau khi cụ Ng, ông K chết đến nay, bà (L) và anh (T) vẫn đang ở và quản lý, sử dụng (nay thuộc thửa 684 và 685-1) nhưng UBND huyện S lại cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị H đối với thửa 685-1 là không đúng.
Nay anh (T) yêu cầu Tòa án: Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa 685-1 và thửa 207-2  giữa cụ Ng, ông Nguyễn Văn H và bà (L) với bà Nguyễn Thị H được UBND xã P chứng thực là vô hiệu; hủy GCNQSDĐ do UBND huyện S cấp cho bà H theo hai hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói trên; thửa 684 hiện do cụ Ng đứng tên trong GCNQSDĐ đã có nhà từ lâu, nhưng khi tách thửa không có đất ở, do đó anh yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND huyện S cấp cho cụ Ng đối với thửa 684; yêu cầu chia thừa kế thửa 207-1 cho anh (được hưởng phần di sản của ông K), ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị H mỗi người được nhận 500m2 đất. Đối với tài sản gắn liền với đất là cây lâu năm không nhiều và giá trị không lớn, nên anh không yêu cầu chia; còn ngôi nhà cấp IV, diện tích khoảng 40 m2 của cụ Tr và cụ Ng để lại đã xuống cấp, trị giá khoảng 15.000.000đồng, anh yêu cầu chia làm 03 phần; ai nhận nhà thì có trách nhiệm thanh toán giá trị cho người còn lại. Diện tích đất còn lại 196m2, anh yêu cầu chia cho bà (L) do có công sức trong việc tôn tạo, bảo quản di sản và chăm sóc, nuôi dưỡng cụ Ng và thờ cúng ông bà. Anh (T) đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết tạo điều kiện cho anh và mẹ là bà L có chỗ ở để ổn định cuộc sống. Anh(T) không đồng ý với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà (L) xác định bà không có công sức nên rút yêu cầu công sức là 196 m2 đất thuộc thửa 207-1 trước khi chia thừa kế cho các đồng thừa kế của cụ Ng và cụ Tr.
 Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu của anh T yêu cầu hủy GCNQSDĐ do UBND huyện S đã cấp cho bà vì bà đã được tặng cho, được UBND xã P chứng thực và UBND huyện S đã cấp GCNQSDĐ cho bà đúng quy định của pháp luật. Đối với việc yêu cầu chia thừa kế của anh T đối với thửa 207-1, bà không đồng ý. 
  Kết quả giải quyết của Tòa án hai cấp
  - Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST  ngày 16/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện, tuyên xử:
 + Không chấp nhận yêu cầu của bà L, anh T về việc tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 685, tờ bản đồ 36, diện tích 909m2 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 207, tờ bản đồ số 36, diện tích 484m2 vô hiệu.
+ Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Ngân hàng TMCP Phương Đ và bà Hồ Thị H về việc chỉ xử lý tài sản thế chấp là phần diện tích 681,7m2 (có kí hiệu ABCD) của thửa đất số 685. 
+ Ghi nhận việc bà Hồ Thị H tặng cho bà Nguyễn Thị H phần diện tích quyền sử dụng đất là: 111,9m2 loại đất ở nông thôn. 
+ Xác định phần tài sản của ông Nguyễn Văn K trong khối tài sản chung của hộ là: 341,8m2 và phần diện tích quyền sử dụng đất: 111,9m2 loại đất ở nông thôn; tổng diện tích là: (341,8m2 + 111,9m2 loại đất ở nông thôn) 453,7m2.
 + Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Công T về yêu cầu chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của ông K và cụ Ng.
 + Chia di sản là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn K:
 Anh T được nhận toàn bộ di sản của ông Nguyễn Văn K là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 684 diện tích đo vẽ thực tế là: 341,8m2 và phần diện tích quyền sử dụng đất là: 111,9m2 loại đất ở nông thôn; tổng diện tích là 453,7m2.
+ Chia di sản là tài sản gắn liền trên đất của cụ Nguyễn Thị Thanh Ng:
Giao căn nhà cấp IVC, diện tích 59,8m2, nhà khác NK7; sân bê tông; am thờ; Chuồng bò, chuồng heo, 04 cây cau, 01 cây lộc vừng; cây măng cầu, bụi chuối, cây sung; 01 cây xanh trên thửa đất số 684, 685 cho anh Nguyễn Công T sở hữu. Anh T thối lại phần giá trị cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 20.091.000 đ.  
Giao nền giếng, giếng đóng; 03 cây cau; một cây mít trên thửa đất 685 cho bà Hồ Thị H được quyền sở hữu. Bà H có nghĩa vụ hoàn trả giá trị cho người thừa kế của cụ Nguyễn Thị Thanh Ng số tiền 4.123.000đ. Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Công T mỗi người được nhận 1.374.000đ. Ghi nhận sự tự nguyện tặng cho phần ông Nguyễn Văn H được nhận cho anh T. Do đó, anh T được nhận 2.748.000đ, bà H được nhận 1.374.000đ.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần  Phương Đ.
+ Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về yêu cầu chia công sức đóng góp trong khối di sản thừa kế.
 - Ngày 01/7/2020, nguyên đơn anh T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
 - Tại Bản án phúc thẩm số 07/2020/DS-PT ngày 04/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh, tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Công T, sửa Bản án số 13/2020/DS-ST ngày 16/6/2020 về cách tuyên.
 Những vấn đề cần rút kinh nghiệm
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/01/2016, tại mục họ tên người khởi kiện thể hiện bà Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp theo pháp luật cho anh Nguyễn Công T là không đúng theo quy định tại khoản 3, điểm b khoản 6 Điều 2 Nghị quyết số 05/2012/HQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu người khởi kiện (thông qua người đại diện hợp pháp) sửa đổi đơn khởi kiện, xác định họ tên người khởi kiện là anh Nguyễn Công T và người đại diện hợp pháp của anh T là bà Nguyễn Thị L mà tiến hành thụ lý vụ án là thiếu sót. 
 Theo đơn khởi kiện, người khởi kiện chỉ yêu cầu chia thừa kế và hủy GCNQSDĐ, nhưng trong Thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” là không đúng với yêu cầu của người khởi kiện. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, anh T có yêu cầu Tòa án tuyên bố 02 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Ng, ông H, bà L với bà H đối với thửa 685-1 và thửa 207-2 là vô hiệu, nên không cần phải điều chỉnh lại quan hệ pháp luật tranh chấp. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu anh Tiền nộp tiền tạm ứng án phí là không đúng.
Tại đơn khởi kiện ngày 20/01/2016, nguyên đơn yêu cầu khởi kiện 02 nội dung gồm: Yêu cầu Tòa án hủy GCNQSDĐ cấp cho bà H tại thửa 207, diện tích 484m2 và thửa 685, diện tích 909m2 và yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Tr, cụ Ng để lại đối với thửa 207, diện tích 1696m2 cùng ngôi nhà trên đất cho các đồng thừa kế theo pháp luật. Ngày 25/01/2016 Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo số 70/2016/TBVA ngày 25/01/2016 về việc thụ lý giải quyết vụ án theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn nêu trên. Đến ngày 16/9/2019 nguyên đơn khởi kiện bổ sung lần 2: Yêu cầu Tòa án chia cho bà L diện tích 196m2 vì bà L có công sức quản lý, tôn tạo, chăm sóc mẹ chồng lúc đau ốm và lo thờ cúng. Tại biên bản làm việc ngày 30/9/2019 và ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện ngày 01/10/2019, nguyên đơn xác định bổ sung yêu cầu Tòa án tuyên bố 02 Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là cụ Ng, ông H, bà L với bên nhận tặng cho bà H đối với thửa 207, diện tích 484m2, đối với thửa 685, diện tích 909m2 là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý bổ sung đối với các yêu cầu khởi kiện bổ sung trên của nguyên đơn và thông báo về việc thụ lý vụ án bổ sung cho các đương sự, VKS cùng cấp biết để có cơ sở giải quyết vụ án, là vi phạm Điều 195, Điều 196 BLTTDS 2015.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 27/12/2018, bà L yêu cầu tính công sức quản lý, tôn tạo, chăm sóc cụ Ng lúc đau ốm và lo thờ cúng tương ứng với 196m2 đất thuộc một phần thửa 207-1. Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu bà L làm đơn khởi kiện, nộp tiền tạm ứng án phí và thụ lý đối với yêu cầu tính công sức của bà L, nhưng vẫn xem xét, giải quyết là không đúng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bà L đã rút yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà L. Do đó, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36 ngày 28/10/2019, đến ngày 14/11/2019 ra Quyết định hoãn phiên tòa, đến ngày 30/11/2019 ra Quyết định tạm ngừng phiên tòa, ngày 27/12/2019 Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án. Đến ngày 22/4/2020 Thẩm phán cấp sơ thẩm tiếp tục ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần 2 (Quyết định số 07 ngày 22/4/2020) và Thông báo mở lại phiên tòa sơ thẩm là vi phạm khoản 2 Điều 259 BLTTDS 2015. Trong trường hợp này Thẩm phán cấp sơ thẩm chỉ ra Thông báo mở lại phiên tòa. 
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 16/6/2020, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07 ngày 22/4/2020 là sai, mà phải căn cứ Quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất (Quyết định số 36 ngày 28/10/2019).
Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận việc bà Hồ Thị H tặng cho bà Nguyễn Thị H phần đất diện tích 111,9 m2  thuộc một phần thửa 685-2 và giao phần đất này cho anh T quản lý, sử dụng nhưng tại phần tuyên xử không buộc bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm giao phần đất này cho anh T quản lý, sử dụng là thiếu sót. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh T và bà L xác định, hiện mẹ con anh đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất này; bà H không quản lý, sử dụng. Nên không cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm, buộc bà Hạnh phải giao phần đất này cho anh T.
Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm gửi Viện KSND cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm./.                    

Tác giả bài viết: Cẩm Linh - Phòng 9

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên