12:57 EDT Thứ bảy, 24/10/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 55

Máy chủ tìm kiếm : 44

Khách viếng thăm : 11


Hôm nayHôm nay : 6057

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 159126

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2351827

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Quang cao giua trang

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành thông báo rút kinh nghiệm vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại

Chủ nhật - 20/09/2020 21:30
Vừa qua, Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” bị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để Viện KSND cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm.

1. Tóm tắt nội dung vụ án:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Tấn H trình bày:
Ngày 08/7/1991 UBND xã P đồng ý cho ông Nguyễn Tấn H và các ông Lê Quang D, Nguyễn Tấn V thuê 16 ha đất trồng rừng, với thời hạn thuê là 12 năm. Sau khi thuê đất thì có thêm các ông Đặng Minh K, Huỳnh Tấn P, Trần T, Trần L cùng góp vốn với ông Nguyễn Tấn H để trồng cây và hưởng sản phẩm theo chu kỳ. Năm 2004 các ông nói trên thống nhất bán số cây bạch đàn tại rừng cho ông Trần S với giá 40.000.000đồng. Thỏa thuận với nhau là bán cây trên đất chứ không chuyển nhượng đất nhưng ông Trần S tự ý chiếm đoạt 16 ha đất để tiếp tục trồng bạch đàn, đồng nghĩa là gây thiệt hại cho nguyên đơn do không được trồng cây và khai thác trên diện tích 16 ha đất kể từ tháng 7/2004 cho đến tháng 10/2010.
Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn H khởi kiện yêu cầu:
- Ông Trần S phải trả lại diện tích đất rừng là 70.836,9m2 tại thửa đất số 218, tờ bản đồ số 61 xã P, huyện Đ;
- Yêu cầu ông Trần S phải trả số tiền đầu tư ban đầu vào năm 1991 là 384.000.000 đồng để cải tạo đất ra mô hình kinh tế rừng; khoản lãi suất tiền đầu tư từ năm 1991 đến năm 2017 là 1.198.080.000 đồng; khoản trượt giá tiền đầu tư từ năm 1991 đến năm 2017 là 798.720.000 đồng, tổng cộng là 2.380.800.000 đồng;
- Bổ sung yêu cầu khởi kiện buộc ông S hoàn trả số tiền 227.608.000 đồng tiền lãi phát sinh đến ngày xét xử sơ thẩm.
Bị đơn ông Trần S trong quá trình tham gia tố tụng cho rằng:
Năm 2004 ông và ông Huỳnh Quang Th có mua của ông Nguyễn Tấn H, ông Nguyễn Tấn V, ông Đặng Minh K diện tích 16 ha đất rừng và cây bạch đàn. Khi mua bán có ông Nguyễn Tấn V là người đại diện viết giấy bán, ông S đã giao đủ tiền cho ông V. Hai bên thỏa thuận thống nhất mua bán với giá 70.000.000 đồng nhưng bên bán giảm 4.000.000 đồng còn lại là 66.000.000 đồng. Sau đó ông Trần S và ông Huỳnh Quang Th đến nhà ông Nguyễn Tấn V để giao đủ số tiền 66.000.000 đồng cho ông V, lúc này có ông K tại nhà ông V làm chứng. Sau khi mua xong, ông S và ông Th khai thác cây và tiến hành phát dọn mặt bằng trồng lại cây keo và bạch đàn trong năm 2004, lúc đó bên bán cũng biết nhưng không có ý kiến gì. Do đó, bị đơn không chấp nhận toàn bộ khởi kiện của nguyên đơn.
Ủy ban nhân dân xã P là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho rằng:
                                                                                                                             

Theo đơn của ông Nguyễn Tấn H, ông Lê Quang D và ông Nguyễn Tấn V đề nghị UBND xã P giải quyết cho các ông thuê 16 ha đất trồng rừng; thời hạn thuê đất là 12 năm. Ngày 08/7/1991, UBND xã P ký xác nhận nhất trí cho trồng rừng với diện tích nêu trên, đồng thời bên thuê phải giao nộp sản phẩm cho Nhà nước khi thu hoạch là 12% giá trị tổng thu. Ngày 07/8/1993, UBND xã P lập thủ tục và tiến hành giao 16 ha đất rừng cho ông Nguyễn Tấn H là người đại diện trồng cây bạch đàn. Ngày 17/6/2004, ông Nguyễn Tấn H, ông Đặng Minh K và ông Nguyễn Tấn V đã thống nhất bán toàn bộ rừng cây bạch đàn cho ông Trần S và ông Huỳnh Quang Th với giá 66.000.000 đồng nhưng không giao nộp sản phẩm 12% giá trị thu hoạch cho Nhà nước như đã cam kết.
UBND xã P yêu cầu ông Nguyễn Tấn H, ông Lê Quang D và ông Nguyễn Tấn V phải trả lại diện tích đất 70.836,9m2 và trả tiền thuê đất từ năm 1991 đến năm 2004 cộng tiền lãi suất ngân hàng Nhà nước từ 2004 đến hết năm 2017 là 15.127.200 đồng.
         
2. Quá trình tố tụng

         
Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện tuyên xử:
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, giữa ông Nguyễn Tấn H với ông Trần S.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tấn H về: Yêu cầu ông Trần S phải trả số tiền đầu tư ban đầu vào năm 1991 là 384.000.000 đồng để cải tạo đất ra mô hình kinh tế rừng; khoản lãi suất tiền đầu tư từ năm 1991 đến năm 2017 là 1.198.080.000 đồng; khoản trượt giá tiền đầu tư từ năm 1991 đến năm 2017 là 798.720.000 đồng, tổng cộng là 2.380.800.000 đồng.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Nguyễn Tấn H về: Yêu cầu ông Trần S trả lại 70.836,9m2 diện tích đất tại thửa đất số 218, tờ bản đồ số 61 xã P, huyện Đ.
- Không chấp nhận về việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông H với số tiền 227.608.000 đồng.  
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 11/12/2019, ông Nguyễn Tấn H kháng cáo bản án sơ thẩm theo hướng yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 15/2020/DS-PT ngày 12/6/2020, TAND tỉnh Quảng Ngãi quyết định: chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tấn H, hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo quy định của pháp luật.

3. Những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm
 - UBND xã P là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Buộc ông Nguyễn Tấn H, ông Lê Quang D và ông Nguyễn Tấn V phải trả lại diện tích đất 70.836,9m2 và trả tiền thuê đất từ năm 1991 đến năm 2004 cộng tiền lãi suất ngân hàng Nhà nước từ 2004 đến hết năm 2017 là 15.127.200 đồng. Yêu cầu này được thể hiện trong suốt quá trình tham gia tố tụng kể cả tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Tòa sơ thẩm đã có Thông báo thụ lý yêu cầu độc lập của UBND xã P, tuy nhiên bản án sơ thẩm không nhận định, không giải quyết yêu cầu này là vi phạm về tố tụng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của UBND xã P dẫn đến giải quyết vụ án không triệt để.
- Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Tấn H cho rằng ông không ký hoặc ủy quyền cho người khác ký các giấy bán, chuyển nhượng đất và cây trồng trên đất. Tuy nhiên bản án sơ thẩm không đánh giá và nhận định giao dịch dân sự trên vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội được quy định từ Điều 123 đến 133 BLDS 2015 hay không để làm căn cứ xác định thời hiệu. Án sơ thẩm đã áp dụng Điều 429 BLDS 2015 với thời hiệu 03 năm để đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản là chưa đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn.
         
Do Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng cả tố tụng và nội dung, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
         
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự./.
                                                                                      Cẩm Linh - Phòng 9
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên