06:41 EST Chủ nhật, 05/12/2021
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 32

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 30


Hôm nayHôm nay : 10946

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 69479

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5449389

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Chúc mừng năm mới
Quang cao giua trang

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành thông báo rút kinh nghiệm về tính án phí trong các vụ án dân sự tranh chấp chia di sản thừa kế

Thứ tư - 09/06/2021 20:36
* Vụ án thứ nhất: “Tranh chấp thừa kế tài sản và tranh chấp quyền sở hữu nhà ở” giữa nguyên đơn bà Lê Thị L và bị đơn bà Đoàn Thị T
Nguyên đơn Lê Thị L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T, cụ H đối với thửa đất số 1511, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.646m2 tại xã BH, huyện
BS, tỉnh QN; tài sản gắn liền với thửa đất 1511 và ½ các thửa đất số 170 diện tích 1.147,7m2, thửa đất số 417 diện tích 1.076,2m2, cùng tờ bản đồ số 9 tại xã BH, huyện BS, tỉnh QN theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: Bà Lê Thị L, bà Đoàn Thị T và cháu Lê Đoàn Trung A.
Kết quả giải quyết của Tòa án hai cấp:
Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2020/DS-ST ngày 05/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện BS tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T và cụ H cho các đồng thừa kế hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật. Đối với di sản thừa kế của cụ T chia làm 11 kỷ phần cho 11 đồng thừa kế gồm: cụ H, cụ Q; các ông, bà Lê Thị M (chết khi chưa có chồng con), Lê Trung Ng (chết, có vợ con là bà Đoàn Thị T và cháu Lê Đoàn Trung A), Lê Tiến H (chết, có vợ là Nguyễn Thị Thanh D và các anh, chị Lê Hùng V, Lê Thị Thanh Th, Lê Thị Thúy K), Lê Thị L, Lê Trường S, Lê Thị Đ, Lê Thị Dg, Lê Thị H, Lê Thị L; mỗi kỷ phần có giá trị là 3.927.100 đồng. Tuy nhiên các đồng thừa kế gồm các ông, bà Lê Trường S, Lê Thị Đ, Lê Thị D, Lê Thị H, Lê Thị L, Nguyễn Thị Thanh D và các anh, chị Lê Hùng V, Lê Thị Thanh Th, Lê Thị Thúy K không nhận kỷ phần thừa kế, mà thống nhất tặng cho nguyên đơn bà Lê Thị L. Như vậy bà  Lê Thị L được nhận 10 phần là 39.271.000đồng. Đối với phần di sản thừa kế của cụ H chia làm 3 kỷ phần gồm: bà Lê Thị L, bà Lê Thị Đ và ông Lê Trung Ng; mỗi người nhận một phần là 14.399.400đồng. Bà Lê Thị Đ tặng cho nguyên đơn bà Lê Thị L kỷ phần của bà được hưởng nên nguyên đơn bà Lê Thị L được nhận 02 phần là 28.798.800đồng. Tổng cộng nguyên đơn bà Lê Thị L được nhận tổng giá trị là 68.069.800đồng (28.798.800đồng + 39.271.000đồng).
Bản án dân sự phúc thẩm số 12/2021/DS-PT ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm về việc xác định di sản, hàng thừa kế để chia di sản thừa kế theo pháp luật, sửa một phần bản án sơ thẩm có tính công tôn tạo, gìn giữ di sản thừa kế cho vợ chồng ông Lê Trung Ng và bà Đoàn Thị T được hưởng thêm ½ kỷ phần di sản của cụ Tòa và ½ kỷ phần di sản của cụ H trước khi chia di sản thừa kế của cụ T, cụ H. Ngoài ra, bản án còn sửa phần án phí buộc nguyên đơn bà Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với các kỷ phần nguyên đơn bà Lê Thị L được hưởng do các đồng thừa kế khác tặng cho.
* Vụ án thứ hai: Tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Phan D và bị đơn ông Phan K.
Nguyên đơn Phan D khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ B, cụ H đối với thửa đất số 1406, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.207,1m2, đất ở đô thị phường Nghĩa L theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm các ông, bà: Phan Thị H, Phan D, Phan Ph, Phan Thị Ch và Phan K; nguyên đơn đồng ý trích 01 kỷ phần cho ông Phan K do có công sức bảo quản di sản và chăm sóc người để lại di sản.
Kết quả giải quyết của Tòa án hai cấp
Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 24/8/2020 Tòa án thành phố QN tuyên Di chúc lập ngày 06/12/2005 của cụ B và cụ H không hợp pháp; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan D về việc chia thừa kế di sản của cụ B và cụ H theo pháp luật đối với diện tích đất 1.207,1m2 thuộc thửa đất số 1406, tờ bản đồ số 3, phường Nghĩa L. Di sản thừa kế của cụ B và cụ H là 1.207,1m2 đất; trừ 101,6m2 mở lối đi còn lại là 1.105,5m2 thuộc thửa đất số 1406, thành tiền là 608.025.000đồng  (1.105,5m2 x 550.000đồng/m2), được chia theo pháp luật cho 05 đồng thừa kế hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà Phan Thị H, ông Phan D, bà Phan Thị Ch, ông Phan Ph và ông Phan K. Ông Phan K được nhận thêm 01 kỷ phần công tôn tạo, bảo quản di sản, công sức chăm sóc và nuôi dưỡng người để lại di sản, do đó mỗi kỷ phần được nhận là 184,25m2 đất. Tuy nhiên các đồng thừa kế bà Phan Thị H, ông Phan Ph không nhận kỷ phần thừa kế, mà thống nhất tặng cho  ông Phan K. Ông Phan K được hưởng kỷ phần thừa kế của bà Phan Thị H và ông Phan Ph tặng cho là 184,25m2 x 2 = 368,5m2. ông Phan K được quản lý, sử dụng diện tích đất 883,3m2, thuộc một phần thửa đất số 1406. Phần đất giao cho ông Phan K nhiều hơn so với kỷ phần được hưởng là 146,3m2 nên buộc ông Phan K phải thanh toán cho ông Phan D số tiền là 80.465.000 đồng
Bản án dân sự phúc thẩm số 14/2021/DS-PT ngày 13/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên nội dung của bản án dân sự sơ thẩm, nhưng sửa phần án phí buộc bị đơn ông Phan K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với các kỷ phần bị đơn ông Phan K được hưởng do các đồng thừa kế khác tặng cho.  
* Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
- Đối với vụ án thứ nhất: Nguyên đơn bà Lê Thị L là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, được TAND cấp sơ thẩm miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là đúng quy định. Tuy nhiên, các đồng thừa kế gồm các ông, bà Lê Trường S, Lê Thị Đ, Lê Thị D, Lê Thị H, Lê Thị L, Nguyễn Thị Thanh D và các anh, chị Lê Hùng V, Lê Thị Thanh Th, Lê Thị Thúy K không thuộc đối tượng được miễn án phí nên họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần thừa kế họ được hưởng; nhưng các đồng thừa kế đã tặng cho kỷ phần thừa kế họ được hưởng cho nguyên đơn bà Lê Thị L. Mặc dù nguyên đơn bà Lê Thị L được miễn án phí nhưng bà chỉ được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần thừa kế bà được chia; còn những kỷ phần thừa kế bà được các đồng thừa kế khác tặng cho (những người này không được miễn án phí) thì bà phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với các kỷ phần thừa kế đó. Do đó, nguyên đơn bà Lê Thị L có trách nhiệm chịu  án phí dân sự sơ thẩm đối với các kỷ phần thừa kế của các đồng thừa kế tặng cho bà.
- Đối với vụ án thứ hai: Nguyên đơn ông Phan K được bà Phan Thị H và ông Phan Ph tặng cho kỷ phần thừa kế. Mặc dù bà Phan Thị H là người cao tuổi và ông Phan Ph là người khuyết tật, đã có đơn xin miễn án phí, được TAND cấp sơ thẩm miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nhưng ông Phan K không phải là đối tượng được miễn án phí, do đó ông Phan K phải có trách nhiệm chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tất cả phần tài sản mà ông được hưởng (bao gồm kỷ phần thừa kế mà ông K được chia và các kỷ phần thừa kế của các đồng thừa kế tặng cho ông).
Tòa án cấp sơ thẩm đã thiếu sót trong việc không tính án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản mà đương sự được hưởng từ các đồng thừa kế khác tặng cho họ để buộc họ phải nộp tiền án phí phần được nhận này là không đúng quy định tại khoản 5 Điều 147 BLTTDS năm 2015 và khoản 3 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo gửi đến VKS cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự trong thời gian đến./.

Tác giả bài viết: Nguyễn Cường - Phòng 9

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn: