22:03 ICT Chủ nhật, 11/04/2021
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 22

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 20


Hôm nayHôm nay : 4545

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 93495

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 3436548

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh

Thứ sáu - 26/02/2021 10:16
Vừa qua, Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh” để Viện KSND cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm.
Nội dung vụ án:
Anh Nguyễn Văn Nh và chị Nguyễn Thị V cùng thỏa thuận góp vốn kinh doanh chung. Anh Nh và chị V đã ký Hợp đồng góp vốn kinh doanh số 01/HĐGVKD ngày 07/02/2018 (gọi tắt là hợp đồng), có anh Nguyễn Anh T làm chứng. Tổng số tiền góp vốn làm ăn chung là 1.800.000.000đ, mỗi người 50%, tức 900.000.000đ. Phương thức góp vốn: Số tiền góp vốn theo nhiều đợt. Thời gian hợp tác theo từng năm, bắt đầu kể từ ngày 07/2/2018 đến hết ngày 31/12/2018, thời hạn trên có thể được kéo dài theo sự thỏa thuận của hai bên. Theo hợp đồng thì chị V là người giữ tiền vốn góp và trực tiếp quản lý, điều hành việc kinh doanh, theo dõi kết quả kinh doanh, hàng tháng công khai kết quả kinh doanh để hai bên đối chiếu sổ sách. Anh Nh có nghĩa vụ tìm kiếm khách hàng, hỗ trợ kinh doanh. Anh Nh đã giao tiền góp vốn cho chị Vương đủ 900.000.000đ trong 04 đợt. Quá trình kinh doanh, chị V không thực hiện đúng các thỏa thuận, cam kết như Điều 4 của hợp đồng đã ký, không rõ ràng, minh bạch về các khoản thu, chi, sổ sách, chứng từ mua bán hàng hóa theo như thỏa thuận. Khi hết thời hạn hợp đồng, anh Nh liên lạc và thông báo với chị V chấm dứt hợp đồng như thỏa thuận tại Điều 2 của hợp đồng và yêu cầu chị V phải trả lại toàn bộ vốn góp như thỏa thuận tại Điều 6 của hợp đồng nhưng chị V không thực hiện. Do đó anh Nh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau: Yêu cầu chấm dứt Hợp đồng góp vốn kinh doanh lập ngày 07/02/2018 giữa anh Nguyễn Văn Nh và chị Nguyễn Thị V với lý do: Theo Điều 2 thì thời hạn thỏa thuận thực hiện hợp đồng đã hết; yêu cầu chị V phải trả lại toàn bộ số tiền vốn góp cho anh theo thỏa thuận tại Điều 6 của hợp đồng góp vốn là 900.000.000đ; anh Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia lợi nhuận, lãi suất có liên quan đến việc góp vốn kinh doanh.
Kết quả giải quyết của Tòa án hai cấp
Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2020/DS-ST ngày 18/9/2020 của TAND huyện B quyết định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Nh; chấm dứt việc hợp tác kinh doanh giữa bên góp vốn là anh Nh và bên nhận góp vốn là chị V theo Hợp đồng góp vốn kinh doanh lập ngày 07/02/2018 với lý do hủy bỏ hợp đồng; buộc bị đơn chị V phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn là anh Nh số tiền là 900.000.000đ.
Sau khi xét xử sơ thẩm, chị V kháng cáo với nội dung: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn yêu cầu: việc hoàn trả tiền vốn góp sẽ thực hiện bằng hình thức chia đôi hàng hóa tồn kho và chia đôi công nợ; yêu cầu tính công sức và khấu trừ chi phí của bị đơn đã bỏ ra trong quá trình kinh doanh; trường hợp nguyên đơn không chịu nhận hàng tồn kho và công nợ thì chị yêu cầu phải có thời gian thanh lý hàng tồn kho, thu hồi công nợ và hoàn trả tiền vốn góp cho nguyên đơn thành từng đợt như lúc góp vốn, thời gian hoàn trả ít nhất phải 20 tháng.
Bản án phúc thẩm số 05/2021/DS-PT ngày 01/02/2021 của TAND tỉnh Quảng Ngãi quyết định: căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS 2015, không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của chị Nguyễn Thị Vương; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Những vấn đề cần rút kinh nghiệm
Mặc dù bản án phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuy nhiên Viện KSND tỉnh thông báo đến VKS cấp huyện những vấn đề cần rút kinh nghiệm sau đây:
Anh Nguyễn Văn Nh căn cứ các điều khoản ghi trong Hợp đồng góp vốn để khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng với lý do: Theo Điều 2 của Hợp đồng góp vốn thì thời hạn thỏa thuận thực hiện hợp đồng đã hết.
Trong Hợp đồng góp vốn ngày 07/02/2018 giữa anh Nh và chị V đã thỏa thuận: “Điều 2. Thời hạn hợp tác: Thời hạn hợp tác theo từng năm; bắt đầu kể từ ngày 07/02/2018, đến hết ngày 31/12/21018. Thời hạn trên có thể được kéo dài theo sự thỏa thuận của hai bên”. Như vậy theo thỏa thuận tại Điều 2, thời gian hợp tác của Hợp đồng chấm dứt vào ngày 31/12/2018. Do đó, theo thỏa thuận tại Điều 6 của Hợp đồng góp vốn thì chị V phải có nghĩa vụ trả lại 900.000.000đ cho anh Nh. Do chị V không trả nên anh Nh khởi kiện yêu cầu chị V trả số tiền góp vốn là đúng với thỏa thuận, cam kết của bên nhận góp vốn.
Theo đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nh yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt Hợp đồng góp vốn kinh doanh số 01/HĐGVKD lập ngày 07/02/2018 với lý do thời hạn thỏa thuận thực hiện hợp đồng đã hết. Đáng lý ra cấp sơ thẩm phải bám sát yêu cầu của đương sự, đánh giá yêu cầu khởi kiện của đương sự có đúng với Hợp đồng góp vốn 02 bên đã ký kết hay không. Nếu yêu cầu phù hợp với nội dung Hợp đồng đã ký kết thì chấp nhận yêu cầu của anh Nh, chấm dứt Hợp đồng góp vốn với lý do thời hạn thỏa thuận thực hiện hợp đồng đã hết. Trong vụ án này anh Nh không yêu cầu chấm dứt hợp đồng với lý do “hủy bỏ hợp đồng” nhưng bản án sơ thẩm lại tuyên chấm dứt việc hợp tác kinh doanh với lý do “hủy bỏ hợp đồng” là chưa bám sát yêu cầu khởi kiện của anh Nh.
Chị V không đồng ý trả lại cho anh Nh 900.000.000đ góp vốn vì cho rằng Hợp đồng góp vốn do anh Nh cung cấp không có chữ ký của chị tại trang 1 và trang 2; theo chị có bản Hợp đồng góp vốn khác ghi thời gian góp vốn từ 03 - 05 năm. Nhận thấy, chị V chỉ thừa nhận trang 3 của Hợp đồng góp vốn do anh Nh cung cấp vì trang 3 có chữ ký của chị. Tại trang 3 của Hợp đồng góp vốn do anh Nh cung cấp có nội dung  “Hợp đồng này gồm 3 trang không thể tách rời, được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản có giá trị pháp lý như nhau”. Như vậy chị V phải giữ 01 bản Hợp đồng góp vốn. Nhưng  chị V không có bản Hợp đồng góp vốn nào có quy định thời hạn góp vốn từ 3-5 năm để cung cấp cho Tòa án.
 Khoản 2 Điều 91 BLTTDS 2015 đã quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp chứng cứ, giao nộp cho tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Đáng lý ra cấp sơ thẩm phải không chấp nhận lời khai của chị V về việc cho rằng có bản Hợp đồng góp vốn quy định thời hạn góp vốn từ 3-5 năm, nhưng bản án sơ thẩm lại nhận định: “Anh Nh yêu cầu chấm dứt Hợp đồng do hết thời hạn hợp tác và do chị V vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng chị V không thừa nhận thời hạn 01 năm như Điều 2 của Hợp đồng... do đó HĐXX cần xem xét các điều kiện khác về chấm dứt hợp đồng. HĐXX xét thấy chị V đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, do đó HĐXX xác định Hợp đồng góp vốn kinh doanh lập ngày 07/02/2018 bị chấm dứt thuộc trường hợp bị huỷ bỏ hợp đồng...”. Từ nhận định trên, bản án sơ thẩm đã quyết định chấm dứt việc hợp tác kinh doanh với lý do hủy bỏ hợp đồng là chưa phù hợp với yêu cầu của đương sự, không phù hợp với chứng cứ tài liệu các đương sự đã cung cấp và chứng cứ do tòa án xác minh, thu thập.
Bản án phúc thẩm đã sửa lại cách tuyên cho phù hợp với yêu cầu của đương sự và chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ: “Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của anh Nguyễn Văn Nh, chấm dứt việc hợp tác  kinh doanh giữa bên góp vốn là anh Nguyễn Văn Nh và bên nhận góp vốn là chị Nguyễn Thị V tại Hợp đồng góp vốn kinh doanh số 01/HĐGVKD lập ngày 07/02/2018 vì có thỏa thuận chấm dứt hợp đồng …”
Trong quá trình nghiên cứu án liên quan đến hợp đồng, KSV cần nghiên cứu kỹ các điều khoản ghi trong hợp đồng; đánh giá yêu cầu của đương sự có phù hợp với điều khoản đã được thỏa thuận trong hợp đồng hay không? Khi giải quyết phải bám sát yêu cầu của đương sự. Trường hợp yêu cầu của đương sự không phù hợp thì yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung yêu cầu. Nếu đương sự không sửa đổi, bổ sung thì không chấp nhận yêu cầu của đương sự, không nên tự lập luận và quyết định giải quyết không đúng với yêu cầu của đương sự. Khi đương sự phản đối thì phải cung cấp chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015.
Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm gửi Viện KSND cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm./.

Tác giả bài viết: Cẩm Linh - Phòng 9

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên