09:11 ICT Thứ năm, 08/12/2022
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
PBGDPL tỉnh
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 100

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 99


Hôm nayHôm nay : 9051

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 190603

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 14755077

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Hoc tap HCM
Chúc mừng năm mới

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ban hành kháng nghị phúc thẩm đối với vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm của Tòa án tỉnh.

Thứ tư - 28/10/2015 10:08
Qua công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật và KSV trực tiếp tham gia giải quyết vụ án kinh doanh thương mại của TAND tỉnh Quảng Ngãi phát hiện vi phạm, ngày 09/10/2015 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định kháng nghị số 934/QĐ-KNPT-KDTM đối với bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2015/KDTM-ST ngày 25/9/2015 của TAND tỉnh Quảng Ngãi theo thủ tục phúc thẩm.
    
     Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2010  của Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng
: Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng cho vợ chồng ông Trần Anh Dũng, bà Vũ Thị Hồng Diệp vay theo Hợp đồng tín dụng số 241/08/SHBĐN/HĐTD ngày 02/5/2008, số tiền vay 600.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 1,8%/tháng, mục đích vay góp vốn kinh doanh. Để đảm bảo khoản nợ vay, vợ chồng ông Dũng bà Diệp đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 185/08/TC.SHBĐN ngày 08/5/2008 là QSD đất tại thửa đất số 203, tờ bản đồ số 21, tổ 14, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi, theo Giấy CNQSD đất số AI 771807 do UBND thành phố Quảng Ngãi cấp ngày 25/6/2007.

     Bà Diệp được Cty Cổ phần Hưng Phát bảo lãnh trả nợ thay bằng Giấy cam kết bảo lãnh ngày 26/4/2008. Ngân hàng cho rằng giấy cam kết này là hợp lệ vì trong giấy cam kết ghi rõ“Trong trường hợp bà Diệp không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Cty Cổ phần Hưng Phát sẽ có nghĩa vụ đứng ra trả nợ thay cho bà Diệp” giấy cam kết có mẫu dấu và chữ ký của Giám đốc Cty Cổ phần Hưng Phát. Trong hồ sơ vay bà Diệp ký ủy nhiệm chi số tiền vay bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Cty Cổ phần Hưng Phát, Cty Cổ phần Hưng Phát đã nộp lãi thay cho bà Diệp được 04 tháng  với tổng số tiền là 43.690.560đ. Sau đó bà Vũ Thị Thu Hương - Giám đốc Cty Cổ phần Hưng Phát không trả nợ thay cho ông Dũng, bà Diệp, nên Ngân hàng thông báo số tiền nợ vay cho ông Dũng, bà Diệp nhưng ông Dũng bà Diệp không trả. Ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông Dũng, bà Diệp phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc 600.000.000đ và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 25/9/2015 là 1.337.040.000đ (gồm: lãi trong hạn 917.640.000đ, lãi quá hạn 419.400.000đ), tổng cộng: 1.937.040.000đ, trường hợp vợ chồng ông Dũng, bà Diệp không trả được thì yêu cầu Tòa án xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản.

     Ông Dũng bà Diệp cho rằng: Không vay tiền của Ngân hàng mà do bà Vũ Thị Thu Hương, Giám đốc Cty Cổ phần Hưng Phát mượn Giấy CNQSD đất của vợ chồng bà trong 01 tháng để vay tiền Ngân hàng, bà Diệp thừa nhận có ký vào một số giấy tờ hồ sơ, tài liệu do bà Hương đưa cho; Khi ký bà không đọc hồ sơ, giấy tờ gì vì lúc đó bà Diệp bận chăm sóc con mới hơn 01 tháng tuổi nên bà Diệp vội vã ký vào hồ sơ. Toàn bộ giấy tờ trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp là do bà ký ghi tên Vũ Thị Hồng Diệp. Riêng chữ ký ông Dũng chồng bà Diệp là do bà Diệp ký thay, bà Diệp chỉ ký tên chứ không viết chữ Trần Anh Dũng. Lúc đó chồng bà Diệp đang đi công tác ở Vũng Tàu nên không biết gì về việc vay vốn và thế chấp tài sản, không ủy quyền cho bà Diệp ký thay trong các hợp đồng vay vốn và thế chấp tài sản. Chữ ký chuyển khoản cho Cty Cổ phần Hưng Phát trong giấy uỷ nhiệm chi là do một mình bà Diệp ký. Việc bảo lãnh và trả lãi của Cty Cổ phần Hưng Phát bà Diệp không biết. Việc Cty Cổ phần Hưng Phát có giấy chứng nhận góp vốn cổ phần đối với bà Diệp là 1 tỷ đồng, bà Diệp không hề biết vì vợ chồng bà Diệp không hề góp vốn vào Công ty này. Vợ chồng bà Diệp không đồng ý trả nợ cho Ngân hàng. Dó đó, yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng tín dụng số 241/08/SHBĐN/HĐTD ngày 02/5/2008, Hợp đồng thế chấp tài sản số 185/08/TC.SHBĐN ngày 08/5/2008 giữa Ngân hàng với ông Trần Anh Dũng, bà Vũ Thị Hồng Diệp là vô hiệu, hủy đăng ký thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất ngày 9/5/2008 của Văn phòng đăng ký QSD đất thành phố Quảng Ngãi; yêu cầu Cty Cổ phần Hưng Phát trả nợ vay 600.000.000đ cho Ngân hàng.
 
     Xét Hợp đồng tín dụng số 241/08/SHBĐN/HĐTD ngày 02/5/2008, Hợp đồng thế chấp tài sản số 185/08/TC.SHBĐN ngày 08/5/2008 giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng với ông Trần Anh Dũng, bà Vũ Thị Hồng Diệp. Qua kết quả giám định tại bản kết luận giám định số 211/PC54 ngày 09/4/2011 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi thì chữ ký, chữ viết Trần Anh Dũng trong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp là không phải tự tay ông Dũng viết, ký mà là do bà Diệp ký thay ông Dũng; Bà Diệp cũng thừa nhận chính bà là người ký thay ông Dũng; ông Dũng không uỷ quyền cho bà Diệp ký thay ông trong các hợp đồng vay, thế chấp.

     Căn cứ Điều 122; 127, Điều 128 Bộ LDS,  xét thấy bản án xác định Hợp đồng tín dụng số 241/08/SHBĐN/HĐTD ngày 02/5/2008 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 185/08/TC.SHBĐN ngày 08/5/2008 bị vô hiệu là có cơ sở. Huỷ đăng ký thế chấp QSD đất, tài sản gắn liền với đất ngày 09/5/2008 của Văn phòng đăng ký QSD đất thành phố Quảng Ngãi. Buộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng trả lại Giấy CNQSD đất số AI 771807 do UBND thành phố Quảng Ngãi cấp ngày 25/6/2007 cho ông Trần Anh Dũng, bà Vũ Thị Hồng Diệp là đúng pháp luật.

     Xét bản án sơ thẩm số 02/2015/KDTM-ST ngày 25/9/2015 của TAND tỉnh Quảng Ngãi, tuyên Hợp đồng tín dụng số 241/08/SHBĐN/HĐTD ngày 02/5/2008 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 185/08/TC.SHBĐN ngày 08/5/2008  vô hiệu, nhưng buộc bà Diệp phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng số tiền nợ gốc còn lại là 556.309.440đ  là chưa đúng. Bởi:

     - Bản án nhận định Ngân hàng là người có lỗi làm cho Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp vô hiệu, do không thực hiện đúng trình tự, thủ tục cho khách hàng vay; thủ tục hồ sơ vay là do bà Hương - Giám đốc Cty Cổ phần Hưng Phát đi làm; ông Dũng bà Diệp không đến ký trực tiếp tại Ngân hàng; bà Diệp ký thay chữ ký của ông Trần Anh Dũng tại các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay, cán bộ Ngân hàng không kiểm tra kỹ hồ sơ và giải ngân cho khách hàng là lỗi hoàn toàn thuộc về Ngân hàng. Đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng cho khách hàng vay là ông Trần Anh Dũng, bà Vũ Thị Hồng Diệp nhưng không trực tiếp làm việc với khách hàng đứng tên vay vốn và thế chấp tài sản, mà chỉ đưa hồ sơ vay, thế chấp cho bà Vũ Thị Thu Hương để bà Hương đem đến cho bà Diệp ký là vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Quyết định 126/QĐ-HĐQT ngày 04/3/2006 của Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội). Do đó, Ngân hàng phải chịu trách nhiệm về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, nên buộc Cty Cổ phần Hưng Phát khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo Điều 137 Bộ LDS. Hơn nữa, giấy cam kết bảo lãnh ngày 26/4/2008, Ngân hàng cho là hợp lệ vì trong giấy cam kết ghi rõ“Trong trường hợp bà Diệp không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì Cty Cổ phần Hưng Phát sẽ có nghĩa vụ đứng ra trả nợ thay cho bà Diệp”. Theo Giấy cam kết trả nợ này thì ngay từ đầu Ngân hàng xác định người trả nợ là Cty Cổ phần Hưng Phát. Vì sau khi vay nếu ông Dũng, bà Diệp không trả nợ được theo cam kết thì Ngân hàng mới yêu cầu Cty Cổ phần Hưng Phát trả nợ thay, nhưng Ngân hàng không yêu cầu ông Dũng, bà Diệp trả nợ mà đã trực tiếp nhận tiền lãi từ Cty Cổ phần Hưng Phát 4 tháng năm 2008 với tổng số tiền là 43.690.560đ.

     - Bản án cho rằng“Bà Diệp là người có đủ năng lực hành vi dân sự, phải biết hậu quả của việc ký vào những giấy tờ bà Hương đưa cho nên buộc bà Diệp trả cho Ngân hàng 600.000.000đ tiền vay gốc là phù hợp”. Việc nhận định  của bản án sơ thẩm là không có cơ sở, vì xét giấy ủy nhiệm chi ngày 09/5/2008, bà Vũ Thị Hồng Diệp ủy nhiệm chi cho Cty Cổ phần Hưng Phát 600.000.000đ, về thủ tục là chưa đảm bảo, giấy ủy nhiệm chi này không được lập tại Ngân hàng, việc ủy nhiệm chi do một mình bà Diệp ký, ông Dũng không ký và cũng không có ủy quyền cho bà Diệp ký chuyển khoản là không đảm bảo quy trình cho vay, nên giấy ủy nhiệm chi này không đúng pháp luật. Theo khoản 5 Điều 10 Quyết định 126/QĐ-HĐQT ngày 04/3/2006 của Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội quy định: “Những hồ sơ tín dụng do khách hàng cung cấp hoặc do SHB và khách hàng cùng ký, thì đề nghị khách hàng ký tên và đóng dấu tương tự như quy định đối với SHB. Đối với khách hàng cá nhân, thì khách hàng ký ghi rõ họ tên bằng chữ viết tay”; Theo điểm c khoản 3 Điều 43 Quyết định 126/QĐ-HĐQT ngày 04/3/2006 của Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn-Hà Nội quy định: “Không giải ngân vào tài khoản tiền gửi của Khách hàng hoặc chuyển khoản vào tài khoản của tổ chức, cá nhân không có quan hệ kinh tế trực tiếp với khách hàng trong việc sử dụng vốn vay, trừ các trường hợp như: Khoản vay phục vụ nhu cầu đời sống; Khách hàng chứng minh được việc chuyển tiền và sử dụng vốn vay đúng mục đích; Đơn vị kinh doanh có thể theo dõi, kiểm tra được việc sử dụng vốn vay đúng mục đích.”.

     Việc Ngân hàng chuyển tiền vay của bà Diệp vào tài khoản của Cty Cổ phần Hưng Phát là không đúng quy định trên, vì bà Diệp, ông Dũng không sử dụng vốn vay vào mục đích kinh doanh, cụ thể Giấy chứng nhận góp vốn cổ phần ngày 12/5/2008 (BL:69, 333), giữa Cty Cổ phần Hưng Phát với Vũ Thị Hồng Diệp, thì không có chữ ký của bà Diệp và ông Dũng, các lời khai của ông Dũng, bà Diệp thể hiện không có góp vốn kinh doanh với Cty Cổ Phần Hưng Phát (BL:132,402), tại bản tường trình của ông Nguyễn Thành Đá ngày 23/01/2015, ngày 06/3/2015 cũng thừa nhận bà Diệp không phải là cổ đông của Cty Cổ phần Hưng Phát, nên giữa Cty Cổ phần Hưng Phát với bà Diệp, ông Dũng không có quan hệ kinh tế trực tiếp, mà Ngân hàng giải ngân vào tài khoản Cty Cổ phần Hưng Phát là vi phạm điều cấm do Ngân hàng quy định. Xét các vi phạm trên là do lỗi của Ngân hàng trong việc giải ngân chuyển số tiền vay của ông Dũng, bà Diệp vào tài khoản của Cty Cổ phần Hưng Phát là sai quy định, do đó phải buộc Cty Cổ phần Hưng Phát có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng 600.000.000đ mới đúng pháp luật về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
    
     Bản án nhận định“Công ty Cổ phần Hưng Phát không yêu cầu đòi lại (số tiền trả lãi thay 43.690.560đ) nên cần khấu trừ số tiền này cho bà Diệp, chỉ buộc bà Diệp trả cho Ngân hàng 556.309.440đ” và còn cho rằng “Riêng đối với số tiền 600.000.000đ  Cty Cổ phần Hưng Phát còn giữ của bà Diệp thì bà Diệp có quyền khởi kiện Cty Cổ phần Hưng Phát trả lại cho bà số tiền trên”. Việc nhận định và quy kết như trên vừa không thống nhất vừa không đúng quy định của pháp luật dân sự. Hồ sơ thể hiện việc trả lãi 43.690.560đ là quan hệ giữa Ngân hàng và Cty Cổ phần Hưng Phát. Sau khi Cty Cổ phần Hưng Phát nhận được 600.000.000đ thì sau đó liên tục trả lãi đến 4 tháng mà ông Dũng bà Diệp không hề biết. Ông Dũng bà Diệp không xin số tiền 43.690.000đ này và Cty Cổ phần Hưng Phát cũng không cho ông Dũng bà Diệp số tiền này. Do vậy, án sơ thẩm nhận định như trên là vi phạm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ LTTDS. Số tiền 600.000.000đ mà Cty Cổ phần Hưng Phát đã nhận của Ngân hàng thì phải trả lại cho Ngân hàng đúng theo quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
     
      Xét việc ông Nguyễn Thành Đá đại diện theo ủy quyền của Cty Cổ phần Hưng Phát khai cho rằng: Khi vay, bà Diệp có yêu cầu chuyển số tiền vay vào tài khoản của Công ty, sau đó bà Diệp đến Công ty yêu cầu rút hết số tiền vay và Công ty đưa số tiền đó cho bà Diệp. Nhưng ông Đá không đưa ra được chứng cứ để chứng minh là bà Diệp đã đến Công ty nhận tiền.
     
      Xét thấy bản án sơ thẩm số 02/2015/KDTM-ST ngày 25/9/2015 của TAND tỉnh Quảng Ngãi xử không buộc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Cty Cổ phần Hưng Phát chịu trách nhiệm trả nợ vay Ngân hàng là không đúng pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 275, 276 Bộ LTTDS; Điều 127, 128, 137 Bộ LDS,  Viện KSND tỉnh  quyết định kháng nghị đề nghị TAND cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm sửa bản án KDTM sơ thẩm số 25/2015/KDTM-ST ngày 25/9/2015 của TAND tỉnh Quảng Ngãi theo hướng: Buộc Công ty Cổ phần Hưng Phát phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội số tiền nợ gốc vay theo quy định của pháp luật.

Tác giả bài viết: Phạm Thị Kim Phượng - P10 Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính
Chuyển đổi số
Nét đẹp Kiểm sát

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên