22:02 EDT Thứ bảy, 24/10/2020
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 19


Hôm nayHôm nay : 6086

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 163372

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2356073

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Quang cao giua trang

Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi kháng nghị phúc thẩm đối với bản án dân sự sơ thẩm có vi phạm

Thứ tư - 09/09/2020 03:32
Sau khi nghiên cứu bản án dân sự sơ thẩm số 33/2020/DS-ST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa nguyên đơn: ông Trần T, bà Phạm Thị L và bị đơn: bà Phạm Thị Th. Xét thấy bản án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về nội dung nên Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành kháng nghị phúc thẩm, cụ thể như sau:

Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2020/DS-ST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là bản án sơ thẩm số 33), tuyên:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Phạm Thị Th phải giao trả cho ông Trần T, bà Phạm Thị L quyền sử dụng thửa đất số 37, tờ bản đồ 16, diện tích 140,4m2 đã được UBND huyện Lý Sơn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDD) cho bà Phạm Thị Th vào ngày 14/10/2010; buộc bà Phạm Thị Th phải tháo dỡ hàng đá đen và buộc ông H, bà L phải tháo dỡ hàng rào lưới B40, trụ bê tông trên thửa đất số 37, tờ bản đồ 16, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi để giao trả lại đất cho nguyên đơn ông T, bà L; Hủy GCNQSDĐ do UBND huyện Lý Sơn cấp cho bà Th ngày 14/10/2010 đối với thửa 37, tờ bản đồ 16.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về các vấn đề khác.
Qua nghiên cứu tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nhận thấy: Nguồn gốc thửa đất 404, tờ bản đồ số 02, diện tích 120m2 UBND huyện LS cấp GCNQSDĐ cho bà Phạm Thị Th vào năm 2005. Đến năm 2010, UBND huyện LS cấp đổi lại GCNQSDĐ cho bà Phạm Thị Th thửa đất 404 thành thửa đất 37, tờ bản đồ số 16, diện tích 140,4m2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều cho rằng là đất Nhà nước cấp giãn dân theo Quyết định 773/TTg ngày 21/12/1994 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo các tài liệu có tại hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, nhân chứng thì nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là đất hoang hóa, được UBND xã A, huyện LS chọn làm đất giãn dân để cấp cho những hộ khó khăn về chỗ ở, điều kiện kinh tế khó khăn không có khả năng mua đất. Ngày 26/9/2000, UBND xã đã xét duyệt cho 16 hộ dân trong số hơn 100 hộ có đơn xin đất làm nhà, trong đó có bà Phạm Thị Th. UBND xã đã tổ chức họp dân, thông báo kết quả xét duyệt của xã, các hộ có tên trong danh sách được duyệt sẽ được bốc thăm theo trình tự các lô đất đã được đánh số thứ tự và bà Th đã bốc thăm lô thứ 6. Khi bàn giao đất thực địa thì bà Th không ký vào biên bản giao đất. Tại phiên tòa, bà Th trình bày lý do bà không ký vào biên bản giao đất là vì bà đi về trước nên không ký. Khi đi nhận đất bà đi cùng bà H và một số người khác, bà H cũng không ký nhưng vẫn được cấp đất. Nguyên đơn cho rằng do không thấy bị đơn đi nhận đất nên cán bộ của UBND xã đã gọi ông và chỉ thửa đất của bị đơn cho ông. Sau khi nhận đất ông làm nhà chạy máy phát điện và được hỗ trợ tiền làm nhà của Chi cục định canh định cư. Tại phiên tòa đại diện Chi cục định canh định cư cho rằng danh sách là do UBND xã, UBND huyện LS họp xét, duyệt và gửi cho Chi cục, nhưng hồ sơ lưu trữ tại Chi Cục để chi tiền hỗ trợ làm nhà của Nhà nước thì có hai tờ và chỉ có tờ số 2 là bản gốc (có đóng dấu), còn tờ số 01 là bản phô tô (không có đóng dấu) là do tài liệu của những người làm trước để lại chứ bản thân người đại diện cũng không rõ, tại sao lại có sự tẩy xóa trong tờ số 01 Chi cục cũng không biết. Quá trình thu thập chứng cứ tại UBND xã không thu thập được do UBND xã đã giải thể, UBND huyện không còn lưu trữ hồ sơ gốc, Chi cục định canh định cư không có bản gốc, nhưng theo Chi cục thì hồ sơ đã được quyết toán tại kho bạc Nhà nước vào năm cấp đất. Chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ chưa thấy Tòa án làm việc với Kho bạc Nhà nước về quy trình chi, thanh, quyết toán tiền hỗ trợ giãn dân nêu trên.
Năm 2002, do mưa bão nên nhà của nguyên đơn hư hỏng, bị đơn lên làm nhà (xây dựng móng đá chẽ) tại thửa 404, tờ bản đồ số 02 thì nguyên đơn ngăn cản nên không làm được. Năm 2005, bị đơn đăng ký kê khai thửa đất nêu trên và được UBND huyện Lý Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2010, bị đơn cấp đổi lại GCNQSDĐ.
Tại phiên tòa, ông Th (nguyên cán bộ hợp đồng địa chính của UBND xã A) xác nhận trong số 100 hộ có đơn xin cấp đất làm nhà thì ai cũng khó khăn, nhưng hộ bị đơn bà Th thuộc diện hộ nghèo và rất khó khăn, con ốm đau, nên Hội đồng xét duyệt đã họp, thống nhất duyệt 20 hộ (trong đó có hộ bà Th), khi lên bốc thăm chỉ có 16 hộ thì cũng có hộ bà Th bốc lô số 6. Như vậy, trong số các hộ xin cấp đất làm nhà đều có đơn của nguyên đơn, bị đơn. Khi họp Hội đồng xét duyệt thì bị đơn là hộ đủ điều kiện, còn nguyên đơn lúc đó đã có chỗ ở nên không được xét cấp lần này, đến khi nhận đất thì một số cán bộ xã cho rằng bị đơn không nhận nên điền tên nguyên đơn vào thay chỗ bị đơn, mà không làm việc với bị đơn về việc có nhận đất hay không là không đúng quy định. Cán bộ UBND xã tự ý tẩy, sửa tên bị đơn trong hồ sơ xin cấp đất để điền tên nguyên đơn vào và giao đất cho nguyên đơn là không đúng quy trình. Do đó, việc bị đơn đến thửa đất đã được bốc thăm (vì có danh sách phân lô kèm theo) để làm nhà ở là phù hợp. Năm 2005, bị đơn đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận thì UBND xã đã xác nhận vào đơn kê khai và UBND huyện cấp GCNQSDĐ cho bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
Tuy nhiên, GCNQSDĐ đã cấp cho bị đơn có có mâu thuẫn về thời gian với đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của bị đơn thì bị đơn trình bày bị đơn không biết, do UBND xã ghi nhầm chứ không phải do bà. Còn việc tại sao nguyên đơn làm nhà chạy máy phát điện bị đơn không ngăn cản thì bị đơn cho rằng lúc đó do bị đơn đi chữa bệnh. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất để trả lại đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận mà UBND huyện cấp cho bị đơn là không có cơ sở.
Từ những phân tích trên, xét thấy Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2020/DS-ST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi thu thập, đánh giá chứng cứ chưa phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, dẫn đến người thuộc hộ nghèo, được Hội đồng xét duyệt cấp đất thì không có chỗ ở; còn người đang có chỗ ở thì được giao đất không qua một quy trình, trình tự vẫn được cấp đất là ảnh hưởng đến đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm đối Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2020/DS-ST ngày 19/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án dân sự sơ thẩm.
                                                                                       Cẩm Linh - Phòng 9
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên