06:58 EST Chủ nhật, 05/12/2021
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39


Hôm nayHôm nay : 11141

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 69674

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5449584

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Chúc mừng năm mới
Quang cao giua trang

Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với vụ án Hôn nhân và gia đình bị hủy do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Thứ tư - 30/06/2021 04:43
Nguyên đơn ông Võ Thanh Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc S, yêu cầu được nuôi 01 con chung là cháu Võ Thị Phương H, không yêu cầu bị đơn bà S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Quyền sử dụng đất số 2038, tờ bản đồ số 02, diện tích 125m2 tại xã Nghĩa H, huyện T; trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 và Quyền sử dụng đất thửa số 37, tờ bản đồ số 12, tại phường QP, TP N. Nguyên đơn yêu cầu giao toàn bộ tài sản chung cho bị đơn bà S quản lý, sử dụng và bị đơn bà S phải có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng. Nếu không thỏa thuận được, nguyên đơn yêu cầu phân chia đôi tài sản trên, giao cho nguyên đơn quản lý sử dụng thửa đất 2038 và sở hữu 01 ngôi nhà trên đất; giao bị đơn bà S quản lý sử dựng thửa đất 37, buộc bị đơn bà S thối lại tiền chênh lệch cho nguyên đơn là 550.000.000đ. Về nợ chung: Nợ chung tại Ngân hàng TMCP Công Thương - chi nhánh Quảng Ngãi với dư nợ gốc là 1.436.000.000đ được thế chấp từ tài sản của người thứ ba là Quyền sử dụng  đất thửa đất số 141, tờ bản đồ số 10, xã Nghĩa H, huyện T có diện tích 639,7m2 mang tên ông Võ Duy H, bà Huỳnh Thị K. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà S nhận 02 tài sản mà nguyên đơn có nguyện vọng giao hết cho bị đơn và bị đơn có trách nhiệm trả nợ với Ngân hàng.
Sau khi nguyên đơn khởi kiện, ngày 03/8/2020 bị đơn có Đơn phản tố. Ngày 28/8/2020 Tòa cấp sơ thẩm ra Thông báo số 80/TB-TLVA ngày 28/8/2020 về việc thụ lý yêu cầu phản tố, với một số nội dung.
 Bản án dân sự sơ thẩm 17/2020/HNGĐ-ST ngày 29/9/2020 của TAND huyện T đã tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Q và bà S.
Về con chung: Giao con chung Võ Thị Phương H cho bà S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Q cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000đ/tháng
Về tài sản chung:
+ Chia Quyền sử dụng đất thửa số 2038 tờ bản đồ số 2, diện tích 125m2 tại xã Nghĩa H, huyện T, có giá trị 797.400.000 đ và giao cho bà Nguyễn Thị S được quyền quản lý sử dụng.
+ Chia Quyền sử dụng đất số 37, tờ bản đồ số 12, diện tích 954m2 tại phường Q,  giá trị 1.377.300.000đ và giao cho ông Q được quyền quản lý, sử dụng. Ông Q có trách nhiệm thối lại phần chênh lệch cho bà S là 289.735.000đ.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMTC Công thương Việt Nam, buộc ông Q và bà S liên đới về các nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, các bên thống nhất mỗi người trả ½ số nợ gốc và lãi: 1.561.156.655đ; mỗi người phải trả 778.578.327đ tiền gốc và tiếp tục trả các khoản lãi, lãi quá hạn.
Bản án phúc thẩm số 04/2021/HNGĐ-PT ngày 28/5/2021 của TAND tỉnh Quảng Ngãi: Căn cứ khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 BLTTDS 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên xử: Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ-ST ngày 29/9/2020 của TAND huyện T về phần chia tài sản khi ly hôn và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án về phần chia tài sản theo thủ tục sơ thẩm.
Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Tòa án cấp sơ thẩm có một số thiếu sót, vi phạm thủ tục tố tụng sau đây:
  • Không giải quyết hết yêu cầu của đương sự
Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung gồm: Quyền sử dụng thửa đất số 2038 và tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4, tờ bản đồ số 02, diện tích 125m2 tại, xã Nghĩa H, huyện T và Quyền sử dụng thửa đất số 37, tờ bản đồ số 12, diện tích 954m2, tại phường Q. Bản án sơ thẩm đã chia Quyền sử dụng thửa đất đối với 02 thửa đất 2038 và 37; nhưng không chia tài sản là ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất 2038.
- Không giải quyết các yêu cầu phản tố của bị đơn
Sau khi nguyên đơn khởi kiện, ngày 03/8/2020 bị đơn có Đơn phản tố. Ngày 28/8/2020 Tòa cấp sơ thẩm ra Thông báo số 80/TB-TLVA ngày 28/8/2020 về việc thụ lý yêu cầu phản tố. Tuy nhiên tại Bản án sơ thẩm đã nhận định và đình chỉ việc thụ lý yêu cầu phản tố của bà S.
Nhận thấy, căn cứ Điều 200 BLTTDS 2015, Điều 12 Nghị quyết 05/2012 ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao thì các yêu cầu của bị đơn (xác định diện tích đất 182m2 (đo đạc thực tế là 141.11m2) nằm trong diện tích thửa 37 là tài sản riêng của bị đơn, yêu cầu nguyên đơn ông Q hoàn trả cho bị đơn các khoản tiền học, tiền nuôi các con, tiền trả nợ gốc, nợ lãi cho ngân hàng, trả tiền nhận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất) nếu được chấp nhận sẽ bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, do đó đây phải được xem là yêu cầu phản tố. Do đó, việc Tòa cấp sơ thẩm cho rằng các yêu cầu của bị đơn không phải là yêu cầu phản tố, đồng thời chỉ nhận định và đình chỉ giải quyết các yêu cầu phản tố của bị đơn đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của bị đơn.
- Việc thẩm định, định giá tài sản chưa đầy đủ, đảm bảo
   Nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu chia giá trị Quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất  là thửa 2038, thửa 37 và tài sản là ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất 2038. Nhưng cấp sơ  thẩm chỉ thực hiện thẩm định giá Quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất mà không thẩm định giá đối với ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất 2038 là không đầy đủ.
 Biên bản xem xét thẩm định đối với các thửa đất không ghi đầy đủ các thông tin như diện tích, giới cận của tài sản được thẩm định là vi phạm Điều 101 BLTTDS 2015.
- Theo Biên bản xem xét thẩm định thể hiện trên thửa đất 37 có keo của ông Nguyễn Ngọc A trồng. Mặc dù ông A thống nhất tự dỡ dọn cây trả mặt bằng cho đương sự, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác định ông A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để buộc ông A phải chặt đốn, dỡ dọn số keo gắn liền với thửa 37, giao trả đất cho người có quyền quản lý, sử dụng đất là thiếu sót, khó khăn cho việc thi hành án sau này.
- Việc ghi nhận ý kiến của KSV tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện trong bản án sơ thẩm không đúng với ý kiến của KSV tại phiên tòa được thể hiện qua Bản phát biểu của KSV có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Trong bản phát biểu của KSV lưu trong hồ sơ vụ án, KSV tham gia phiên tòa cấp sơ thẩm đề nghị: “…Giao cho ông Q quản lý sử dụng thửa đất số 37, tờ bản đồ số 12, phường Q, diện tích 963m2; giao cho bà S tiếp tục quản lý sử dụng thửa đất số 2038, tờ bản đồ số 02, xã Nghĩa H, diện tích 125m2ngôi nhà trên thửa đất này…”. Nhưng bản án sơ thẩm ghi nhận ý kiến của KSV tham gia phiên tòa cấp sơ thẩm trong bản án sơ thẩm như sau: “…Đề nghị HĐXX giao Quyền sử dụng đất thửa đất số 2038, tờ bản đồ số 02 diện tích 125m2 cho bà S được quyền quản lý sử dụng, bà S có trách nhiệm thối lại ½ giá trị tài sản cho ông Q (trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 các bên không yêu cầu, đề nghị không xem xét)…”.
Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm gửi đến VKS cấp huyện nghiên cứu rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự trong thời gian đến.

Tác giả bài viết: Nguyễn Cường - Phòng 9

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn: