07:03 ICT Thứ tư, 06/07/2022
TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH!

Menu

Chuyên đề sáng kiến
Hướng dẫn nghiệp vụ
Án lệ
PBGDPL tỉnh
Trang công bố bản án Tòa án
Bộ pháp điển

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 43

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 41


Hôm nayHôm nay : 4243

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 109734

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10752800

Tin tức » Tin VKSND Quảng Ngãi »

Hoc tap HCM
Chúc mừng năm mới
Quang cao giua trang

Rút kinh nghiệm về vụ án hành chính bị kháng nghị, cấp phúc thẩm xử cải sửa toàn bộ bản án

Thứ tư - 28/10/2015 10:12
Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm số 1871/TB-VKS-P10 ngày 26/10/2015 đối với vụ án hành chính “Khiếu kiện Quyết định hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai”giữa:NKK: Bà Đào Thị T, NBK: Chủ tịch UBND huyện B, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn L.
         
            1. Nội dung vụ án và quá trình giải quyết
:

            Theo đơn khởi kiện của bà Đào Thị T khởi kiện Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện về việc giải quyết tranh chấp đất đai; yêu cầu TAND huyện hủy Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B, với lý do: Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai không xác định đúng nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của ông Phan Văn L.

          Nguyên diện tích đất chồi tại “ gò Ông Cúng” có nguồn gốc đất ông bà để lại cho bà T quản lý để lấy củi từ trước năm 1975 đến nay, năm 1982 ông S cha ông L tự ý trồng khoảng 80 cây bạch đàn, sau đó bà T biết thì ông Sầm xin bà T để trồng lấy cây dùng và bà đồng ý. Thời gian 6-7 năm sau thì ông S đốn cây. Đất này bà kê khai đăng ký, nhưng ông Phan Văn L tự ý trồng cây chiếm đất nên bà tranh chấp liên tục. Năm 2007 bà dẫn đoàn đo đạt đến diện tích đất để đo đạt kê khai nhưng ông L không có ý kiến gì, theo tờ bản đồ năm 2002 thuộc thửa đất 79 diện tích 7.391m2, theo bản đồ 2007 thuộc thửa số 51 diện tích 7902m2.

           Ngày 30/6/2014, Chủ tịch UBND huyện B có quyết định số1375/QĐ-UBND giải quyết tranh chấp đất đai công nhận cho ông L một phần diện tích đất trong thửa đất số 51 của bà là không đúng. Vì ông S lấn chiếm đất từ năm 1982 và đã trả lại đất cho bà năm 1992, chứ không phải ông L sử dụng từ năm 1982. Năm 2008 ông L đem cây trồng trên đất thì bà có đơn tranh chấp đến nay. Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND huyện B xác định không đúng về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của ông L. Vì đất do bà đứng tên đăng ký kê khai, khi UBND xã Bình H hòa giải bà không tham gia và không ký tên vào các biên bản.

           Đại diện UBND huyện trình bày: Thửa đất đang tranh chấp giữa bà T với ông L, theo bản đồ 299 chỉnh lý thuộc một phần thửa đất số 495, tờ Bản đồ số 11, diện tích 26.400m2, loại đất RT (đất rừng); Theo bản đồ năm 2002 thuộc một phần thửa đất số 79, tờ bản đồ số 13, diện tích 7390,9m2 đất Hg/b (đất hoang), đứng tên trong sổ mục kê là UBND xã; theo bản đồ  năm 2007 thuộc thửa đất số 51, tờ Bản đồ số 40, diện tích đo bao 7.902m2 đất LNK (đất trồng cây lâu năm khác), đứng tên trong sổ mục kê là bà Đào Thị T. Vị trí đất bà T và ông L tranh chấp nay thuộc thửa 170 diện tích 2.287m2 loại đất LHK, tờ bản đồ  số 40 tại xã Bình H. Hiện trạng thửa đất tranh chấp có cây bạch đàn tái sinh và cây keo lá tràm  xác định do ông L trồng và sử dụng, gia đình bà T không trồng cây gì, bà Đào Thị T không phải là người trực tiếp sử dụng đất diện tích 2.287m2 từ năm 1982 đến nay.

             Cơ sở để công nhận quyền sử dụng đất cho ông L: là người trực tiếp sử dụng  một phần đất tại thửa số 51, diện tích 2.287m2 loại đất trồng cây lâu năm từ năm 1982 đến nay,căn cứ khoản 4 Điều 50 Luật đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 14 Nghị định 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; thì ông L đủ điều kiện để Nhà nước cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất trên. Bà T không phải là người quản lý, sử dụng. Quá trình thẩm tra, xác minh bà Trinh không cung cấp được giấy tờ, chứng cứ nào để chứng minh việc quản lý sử dụng đất hợp pháp của bà T. Bà T yêu cầu hủy Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B về việc giải quyết tranh chấp đất đai với ông L là không có cơ sở.

          Ông Phan Văn D trình bày: Diện tích đất mà ông L và bà T tranh chấp là năm 1982 ông L vở hoang để trồng hoa màu, năm 1990 do đất xấu chuyển qua trồng bạch đàn và quản lý liên tục đến năm 2008 bà T tranh chấp, UBND xã Bình H đã hòa giải nhiều lần không thành, những người có đất lân cận với thửa đất này đều xác nhận diện tích đất mà bà T, ông L tranh chấp là do ông L khai hoang từ năm 1982 sử dụng trồng bạch đàn đến nay.Việc Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 giải quyết tranh chấp đất đai là phù hợp với thực tế sử dụng đất, không đồng ý việc khởi kiện của bà T.

            Bản án sơ thẩm số 02/2015 ngày 24/6/2015 của TAND huyện, căn cứ Điều 28, 29, 163, 176 Luật TTHC xử: Bác yêu cầu khởi kiện của bà  Đào Thị T về việc yêu cầu hủy Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B về việc giải quyết tranh chấp đất đai.

           Ngày 08/7/2015 bà Võ Thị Trinh đại diện bà T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; Yêu cầu hủy bản án, yêu cầu hủy Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B.

            Tại cấp sơ thẩm, KSV tham gia phiên tòa, sau phiên tòa không có ý kiến gì về giải quyết vụ án của Tòa án. Qua kiểm sát bản án, Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi phát hiện có vi phạm đã ban hành kháng
nghị số 686/QĐ-KNPT-HC ngày 24/7/2015 đề nghị cải sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, hủy Quyết định số 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B.

           Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện KSND tỉnh đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi, chấp nhận một phần kháng cáo của đương sự, sửa toàn bộ Bản án số số 02/2015/HC-ST ngày 24/6/2015 của TAND huyện, hủy Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

         Căn cứ khoản 2 Điều 205 Luật TTHC đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi, một phần kháng cáo của đương sự, sửa toàn bộ Bản án số số 02/2015/HC-ST ngày 24/6/2015 của TAND huyện, hủy Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

           2. Vấn đề cần rút kinh nghiệm thông qua việc giải quyết vụ án:

           Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 giải quyết tranh chấp đất đai căn cứ và áp dụng khoản 4 Điều 50 Luật đất đai năm 2003, khoản 2 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ cho rằng ông Phan Văn L sử dụng đất ổn định là chưa đúng. Bởi lẽ: Theo trình bày của bà T nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp trước năm 1975 là của gia đình bà trực tiếp sử dụng, sau năm 1975 bà trực tiếp kê khai đăng ký toàn bộ diện tích đất sử dụng cho đến nay ông L biết nhưng không có ý kiến gì. Theo ông Phan Văn L thì thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc trước năm 1975 là của gia đình bà Đào Thị T, sau năm 1975 thửa đất này không ai quản lý, sử dụng và bỏ hoang, năm 1982 gia đình ông khai hoang thửa đất và sử dụng trồng cây hoa màu, đến năm 1990 do đất cằn cổi sử dụng không hiệu quả nên chuyển qua trồng cây lâu năm và sử dụng liên tục cho đến nay. Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ thì diện tích đất đang tranh chấp, bà T là người đứng tên đăng ký kê khai năm 2007, khi kê khai ông L biết nhưng không có ý kiến gì và việc này được thể hiện rõ tại các biên bản hòa giải của UBND xã Bình H. Như vậy thấy rằng việc Chủ tịch UBND huyện B, xác định ông Phan Văn L sử dụng đất ổn định không có tranh chấp là không đúng với quy định tại Điều 3 Nghị định 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, hướng dẫn sử dụng đất ổn định theo khoản 4 Điều 50 Luật đất đai năm 2003.

            Quyết định giải quyết tranh chấp của Chủ tịch UBND huyện, xác định diện tích đất ông Phan Văn L đang sử dụng không có tranh chấp để công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn L là không có cơ sở. Vì, theo Báo cáo số 53/CB-UB ngày 20/5/2014 của UBND xã Bình H xác nhận từ năm 1990 Phan Văn L chuyển sang trồng cây bạch đàn và sử dụng từ đó cho đến tháng 4 năm 2008 thì xảy ra tranh chấp với bà Đào Thị T; theo đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp của ông Phan Văn L đề ngày 20/12/2013 cũng thừa nhận năm 2008 bà T phát đơn tranh chấp; đơn khởi kiện bà Đào Thị Tcho rằng bà tranh chấp đất với ông Phan Văn L từ năm 2008 đến nay chưa được giải quyết

            Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện giải quyết tranh chấp đất đai căn cứ kết quả thẩm tra, Báo cáo số 84/BC-TNMT ngày 13/6/2014 của phòng Tài nguyên Môi trường huyện kết luận: Thửa đất đang tranh chấp theo bản đồ 299, thuộc một phần thửa đất số 486, tờ bản đồ số 02, diện tích đo bao 5.575m2, loại đất Hg (đất hoang). Nhưng theo Công văn 38/UBND ngày 27/4/2015 của UBND xã Bình H, gửi Tòa án về việc giải trình vị trí thửa đất đang tranh chấp giữa bà T với ông L lại xác định: thửa đất đang tranh chấp giữa ông L và bà T, theo bản đồ 299 (bản đồ chỉnh lý) thuộc một phần diện tích thửa đất số 495, tờ bản đồ số 11, diện tích 26.400m2, loại đất RT (đất rừng); Cán bộ địa chính xã Bình H xác định vị trí, cung cấp thông tin về diện tích đất có sự khác nhau với căn cứ của quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND huyện B, nhưng quá trình giải quyết tranh chấp UBND huyện chưa xác minh làm rõ. Hơn nữa việc bà T là người đứng tên đăng ký kê khai diện tích đất năm 2007 và cho rằng đã được cấp giấy CNQSDĐ cũng chưa làm rõ trước khi ban hành Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 về giải quyết tranh chấp đất. 

          Quy trình để xem xét giải quyết tranh chấp đất trong đó có Biên bản họp của Hội đồng tư vấn giải quyết đất đai của UBND xã Bình H, thành phần của Hội đồng tư vấn không đúng với quy định tại khoản 2 Điều 161 Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ
Quyết định 1375/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của Chủ tịch UBND huyện B giải quyết tranh chấp đất đai theo đơn của ông L, nhưng các biên bản hòa giải ở xã để bà T là nguyên đơn, ông L là bị đơn;

          Các biên bản hòa giải của UBND xã Bình H chữ ký của bà T có sự khác nhau không phải do một người ký. Chữ ký của bà Trinh người đại diện bà T tại các biên bản hòa giải ở xã Bình H lập thấy tại thời điểm bà Trinh ký, bà T chưa có văn bản ủy quyền cho bà Trinh.

         Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện UBND huyện B thừa nhận có sai sót về quy trình, thủ tục quá trình xem xét giải quyết tranh chấp đất giữa ông L với bà T trước khi ban hành quyết định số 1375/QĐ-UBND.

Tác giả bài viết: Phạm Thị Kim Phượng, P10 Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn:

Những tin cũ hơn:

 

Thông báo mới

Ban Tuyên truyền VKSND tỉnh: V/v Triển khai tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 110 nãm Ngày sinh ðồng chí Chủ tịch Hội ðồng Nhà nýớc Võ Chi Công (07/8/1912 – 07/8/2022)
Ban Tuyên truyền VKSND tỉnh: V/v Triển khai tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 75 nãm Ngày Thýõng binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2022)
Ban tuyên truyền VKSND tỉnh: V/v Tham gia cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu pháp luật về cải cách thủ tục hành chính” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
UBND tỉnh: Về việc chấp hành quy định về phòng, chống tác hại của rượu, bia
Kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nãm 2022 của ngành KSND tỉnh Quảng Ngãi
Kế hoạch Tham gia Hội thao ngành Kiểm sát nhân dân “Cúp Báo Bảo vệ pháp luật lần thứ XI” và Tuyên truyền tìm hiểu về truyền thống 62 năm của Ngành Kiểm sát nhân dân (26/7/1960-26/7/2022)
Phát động tham gia Giải Búa liềm vàng lần thứ VII – năm 2022 trong ngành KSND
Chương trình công tác tuyên truyền năm 2022 của Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi
Kế hoạch tuyên truyền năm 2022 của Viện KSND tối cao
Kế hoạch Phát động phong trào thi đua Ngành Kiểm sát nhân dân thi đua rèn luyện theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”
Lịch tiếp công dân
Kết quả xử lý đơn
Tin báo tố giác
Kế hoạch - Tài chính
Chuyển đổi số

Ảnh hoạt động

Đăng nhập thành viên